Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất tại trường Đại học Phú Yên

Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất tại Trường Đại học Phú Yên, góp phần phát triển toàn diện sinh viên.

Trường đại học

Trường Đại học Phú Yên

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

315
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC và thể thao trong trường học

1.2. Khái lược về các khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và đánh giá chất lượng GDTC

1.2.1. Các khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.2. Khái lược về chất lượng và đánh giá chất lượng công tác GDTC

1.3. Vai trò, nhiệm vụ của GDTC trong trường học và nguyên tắc GDTC cho sinh viên

1.3.1. Vai trò của GDTC trong trường học

1.3.2. Nhiệm vụ của GDTC trong trường học

1.3.3. Những nguyên tắc GDTC cho sinh viên

1.4. Phong trào TDTT và GDTC ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.4.1. Phong trào TDTT và GDTC ở các nước trên thế giới

1.4.2. Phong trào TDTT và GDTC ở Việt Nam

1.5. Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của sinh viên lứa tuổi 18 – 22

1.5.1. Tố chất sức nhanh

1.5.2. Tố chất sức mạnh

1.5.3. Tố chất sức bền

1.5.4. Tố chất mềm dẻo

1.5.5. Tố chất khéo léo (khả năng phối hợp vận động)

1.6. Đặc điểm giải phẫu sinh lý, tâm lý sinh viên lứa tuổi 18-22

1.6.1. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý sinh viên lứa tuổi 18-22

1.6.2. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 18-22

1.7. Đặc điểm công tác GDTC và hoạt động TDTT học đường tại Trường Đại học Phú Yên

1.7.1. Quá trình hình thành và kết quả đạt được của công tác GDTC Trường Đại học Phú Yên

1.7.2. Định hướng phát triển công tác GDTC của Trường Đại học Phú Yên

1.7.3. Một số công trình liên quan

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Khách thể nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp đọc phân tích và tổng hợp tài liệu

2.2.2. Phương pháp phỏng vấn

2.2.3. Phương pháp kiểm tra sư phạm

2.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

2.2.5. Phương pháp toán thống kê

2.3. Tổ chức nghiên cứu

2.3.1. Kế hoạch nghiên cứu

2.3.2. Địa điểm và đơn vị phối hợp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đánh giá thực trạng công tác GDTC của Trường Đại học Phú Yên trong giai đoạn 2010 – 2015

3.1.1. Xác định các tiêu chí đánh giá thực trạng công tác GDTC của Trường Đại học Phú Yên trong giai đoạn 2010 – 2015

3.1.2. Phân tích thực trạng công tác GDTC Trường Đại học Phú Yên trong giai đoạn 2010 – 2015

3.1.3. Tiểu kết mục tiêu 1

3.2. Xây dựng một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC Trường Đại học Phú Yên

3.2.1. Căn cứ xác định giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC Trường Đại học Phú Yên

3.2.2. Các nguyên tắc khi xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC

3.2.3. Xác định các giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC Trường Đại học Phú Yên giai đoạn 2016 – 2018

3.2.4. Xác định các nội dung cho từng giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC của Trường Đại học Phú Yên

3.2.5. Hướng dẫn quy trình thực hiện một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác GDTC của Trường Đại học Phú Yên

3.2.6. Tiểu kết mục tiêu 2

3.3. Đánh giá hiệu quả thực nghiệm một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC Trường Đại học Phú Yên

3.3.1. Tổ chức thực nghiệm

3.3.2. Kết quả kiểm tra sinh viên trước thực nghiệm một vài giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC

3.3.3. Kết quả kiểm tra và đánh giá hiệu quả tác động sau thực nghiệm của một vài giải pháp ngắn hạn nâng cao công tác GDTC

3.3.4. Đánh giá hiệu quả tác động của từng nội dung ở các giải pháp đến việc nâng cao chất lượng công tác GDTC sau quá trình thực nghiệm

3.3.5. Tiểu kết mục tiêu 3

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Giới thiệu về giáo dục thể chất tại Đại học Phú Yên

Giáo dục thể chất (GDTC) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn diện sinh viên tại Đại học Phú Yên. Chất lượng GDTC không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn đến khả năng học tập và phát triển kỹ năng sống của sinh viên. Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, GDTC là một phần không thể thiếu trong giáo dục đại học, nhằm nâng cao thể lực và tinh thần cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, thực trạng GDTC tại Đại học Phú Yên vẫn còn nhiều hạn chế, như cơ sở vật chất chưa đáp ứng đủ nhu cầu, đội ngũ giảng viên còn thiếu và chưa được đào tạo bài bản. Điều này dẫn đến chất lượng GDTC chưa đạt yêu cầu, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của sinh viên.

1.1. Vai trò của giáo dục thể chất

GDTC có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển thể lực cho sinh viên. Nó giúp sinh viên rèn luyện sức khỏe, nâng cao khả năng vận động và phát triển các kỹ năng xã hội. GDTC không chỉ là môn học mà còn là một phần của cuộc sống sinh viên, giúp họ có thể đối mặt với áp lực học tập và cuộc sống. Việc tham gia các hoạt động thể chất cũng giúp sinh viên xây dựng tinh thần đồng đội và khả năng lãnh đạo. Do đó, việc nâng cao chất lượng GDTC là cần thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của sinh viên.

II. Thực trạng giáo dục thể chất tại Đại học Phú Yên

Thực trạng GDTC tại Đại học Phú Yên cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Theo các nghiên cứu, cơ sở vật chất phục vụ cho GDTC còn thiếu thốn, không đủ để đáp ứng nhu cầu tập luyện của sinh viên. Đội ngũ giảng viên GDTC chưa được đào tạo chuyên sâu, dẫn đến chất lượng giảng dạy không đồng đều. Chương trình GDTC cũng chưa được cập nhật thường xuyên, không phù hợp với nhu cầu và xu hướng hiện đại. Điều này đã ảnh hưởng đến sự hứng thú và tham gia của sinh viên trong các hoạt động thể chất. Nhiều sinh viên cho biết họ không hài lòng với chất lượng GDTC hiện tại, điều này cần được xem xét và cải thiện.

2.1. Đánh giá chất lượng giáo dục thể chất

Chất lượng GDTC tại Đại học Phú Yên cần được đánh giá dựa trên nhiều tiêu chí, bao gồm cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, chương trình giảng dạy và sự tham gia của sinh viên. Các nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên thường xuyên tham gia các hoạt động thể chất có sức khỏe tốt hơn và đạt kết quả học tập cao hơn. Tuy nhiên, với thực trạng hiện tại, nhiều sinh viên không có cơ hội tham gia đầy đủ vào các hoạt động này. Việc cải thiện chất lượng GDTC không chỉ giúp nâng cao sức khỏe cho sinh viên mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nhà trường.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất

Để nâng cao chất lượng GDTC tại Đại học Phú Yên, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần đầu tư cải thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho GDTC. Thứ hai, cần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên thông qua các chương trình đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn. Thứ ba, cần cập nhật và điều chỉnh chương trình GDTC để phù hợp với nhu cầu và xu hướng hiện đại. Cuối cùng, cần khuyến khích sinh viên tham gia nhiều hơn vào các hoạt động thể chất, từ đó nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống của họ.

3.1. Đầu tư cơ sở vật chất

Đầu tư vào cơ sở vật chất là một trong những giải pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng GDTC. Cần xây dựng thêm các sân tập, phòng tập thể dục và trang bị đầy đủ thiết bị thể thao hiện đại. Điều này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên trong việc tập luyện mà còn khuyến khích họ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động thể chất. Một môi trường tập luyện tốt sẽ giúp sinh viên phát triển thể lực và nâng cao tinh thần thể thao.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC và thể thao trong trường học Công tác GDTC trong trường học là một mặt của nền giáo dục, nhằm đào tạo những lớp người “Phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức…”. Đó là mục tiêu của Đảng và nhà nước, cũng là ước nguyện của Bác Hồ đối với thế hệ trẻ Việt Nam, thế hệ sẵn sàng kế tục sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việc duy trì và tăng cường thể chất của giống nòi Việt Nam phải bắt đầu từ thế hệ trẻ, cũng như Bác Hồ đã từng dạy “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi nhân tố phát triển xã hội là con người. Bác khẳng định, TDTT là phương thức đào tạo phát triển con người toàn diện, nó là phương tiện phục vụ lợi ích giai cấp, lợi ích xã hội. Theo Bác có sức khỏe là có tất cả, muốn có sức khỏe phải tập luyện thể dục thể thao, “vì nó cũng là công tác trong công tác cách mạng khác” và Bác cho rằng: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công”[38]. Tư tưởng đó đã cho thấy tầm quan trọng của TDTT trong việc nâng cao sức khỏe toàn dân phục vụ cho sự nghiệp cách mạng trong từng giai đoạn.

Bởi vì, muốn có sức khỏe thì không có cách nào khác hơn là phải tập luyện TDTT. Trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 điều 14 qui định:“Nhà nước thống nhất sự nghiệp quản lý thể dục thể thao, qui định chế độ GDTC bắt buộc trong nhà trường, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức TDTT tự nguyện của nhân dân, tạo điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động TDTT quần chúng, chú trọng hoạt động TDTT chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao”[48]. Chỉ thị 36/CT-TW ngày 24 tháng 3 năm 1994 Ban Bí Thư TW Đảng về công tác TDTT trong giai đoạn mới đã nêu lên vai trò của TDTT đối với luan an 6 việc nâng cao sức khỏe cho mọi người, đổi mới chương trình đào tạo vận động viên để nâng cao thành tích thể thao, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật TDTT và nâng cao uy tín TDTT nước ta trên trường quốc tế. Về GDTC và thể thao trường học, Chỉ thị có đoạn viết: “…Cải tiến trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học”[3].

Ngày 07/03/1995, Chính phủ có chỉ thị số 133/TTg về công tác TDTT trong giai đoạn mới, có đoạn ghi: “Bộ GD&ĐT đặc biệt coi trọng việc GDTC trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khóa, ngoại khóa, có quy chế bắt buộc các nhà trường, nhất là các trường đại học phải có sân bãi, phòng tập TDTT, có định biên hợp lý. Bộ GD&ĐT bổ nhiệm một thứ trưởng chuyên trách chỉ đạo công tác GDTC trường học”[54]. Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII 1996 đã khẳng định: “Giáo Dục và Đào tạo cùng với Khoa học và Công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu” và đã nhấn mạnh đến việc chăm lo GDTC con người là “Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh không chỉ có con người phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức, lối sống mà còn có con người cường tráng về thể chất, chăm lo con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội”. Luật giáo dục được Quốc hội khóa IX Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 2 tháng 12 năm 1998 quy định: “Nhà nước coi trọng TDTT trường học, nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng.

GDTC là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên, được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân, từ mầm non đến đại học”[46]. Pháp lệnh TDTT được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa X thông qua ngày 25 tháng 9 năm 2000 ở điều 14 chương III quy định “TDTT trường học bao gồm GDTC và hoạt động ngoại khóa cho người học. GDTC trong trường học là chế độ GDTC bắt buộc, nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển thể chất, luan an 7 góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học. Nhà nước khuyến khích thể dục thể thao ngoại khóa trong nhà trường”[47].

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC và thể thao trường học, Bộ GD&ĐT đã có nhiều văn bản pháp quy để chỉ đạo thực hiện đến các cơ sở. Bộ GD&ĐT cũng đã ban hành chương trình mục tiêu: “Cải tiến nâng cao chất lượng GDTC, sức khỏe, phát triển và bồi dưỡng tài năng thể thao học sinh, sinh viên trong nhà trường các cấp, giai đoạn 1996 - 2000 và định hướng đến 2025”. Trong chương trình mục tiêu, đã nêu lên đầy đủ những điều kiện đảm bảo công tác GDTC và thể thao trong trường học ổn định và phát triển đến năm 2025.[14] Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về GDTC và thể thao trường học được thể hiện rõ và nhất quán trong hiến pháp, luật, pháp lệnh, chỉ thị, nghị quyết, quyết định, thông tư của Đảng, chính phủ, quốc hội và các bộ, ngành, đoàn thể chính trị xã hội có liên quan. Đó là quan điểm coi GDTC là một mặt quan trọng của giáo dục toàn diện cho thế hệ con người Việt Nam có thể lực cường tráng, có trí tuệ phát triển cao, có đạo đức trong sáng để xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Để công tác thể thao học đường thực sự có vị trí quan trọng trong việc góp phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và thể chất, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ vững và tăng cường an ninh quốc phòng, cần phải xây dựng nhà trường thành những cơ sở phong trào TDTT quần chúng của học sinh, sinh viên. Trước tình trạng giảm sút sức khỏe, thể lực của học sinh, sinh viên hiện nay, hai ngành giáo dục và TDTT đã thống nhất những nội dung, biện pháp và hợp đồng trách nhiệm và chỉ đạo nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng GDTC của học sinh, sinh viên: “Hai ngành nhất trí xây dựng chương trình mục tiêu, cải tiến nâng cao chất lượng GDTC, bồi dưỡng năng khiếu trong học sinh, luan an 8 sinh viên,…kiến nghị với Nhà nước phê duyệt chương trình quốc gia và được đầu tư kinh phí thích đáng”. Khái lược về các khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và đánh giá chất lượng GDTC 1. Các khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Để tiếp tục giải quyết các vấn đề nghiên cứu tiếp theo cần thiết phải làm sáng tỏ và thống nhất một số khái niệm cơ bản có liên quan.

- Thể dục thể thao: “Là một bộ phận của nền văn hóa – xã hội, TDTT là sự tổng hợp của những thành tựu của xã hội trong sự nghiệp sáng tạo nên và sử dụng hợp lý những phương tiện, phương pháp và các biện pháp chuyên môn để nâng cao sức khỏe, bồi dưỡng thể lực, trí lực của nhân dân góp phần giáo dục và phát triển con người toàn diện TDTT là một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực”[60]. - Thể chất: Nguyễn Toán cho rằng “Thể chất là chỉ chất lượng thân thể con người. Đó là đặt trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (trong đó có giáo dục và rèn luyện). Thể chất bao gồm thể hình, khả năng chức năng thích ứng”[60].

- GDTC: Theo Nguyễn Toán đã mô tả GDTC và khái niệm: “GDTC là một bộ phận của thể dục thể thao. GDTC còn là một trong những hoạt động cơ bản, có định hướng rõ của thể dục thể thao trong xã hội, một quá trình tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người”[50]. Theo quan điểm của A.Kyznhetxop và Xokholop cho rằng: “GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học động tác, giáo dục các tố chất thể lực, lĩnh hội các tri trức chuyên môn về TDTT và hình thành nhu cầu tập luyện tự giác ở con người. [1] luan an 9 GDTC là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân.

GDTC được hiểu là: “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người”. GDTC cũng như loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh, sinh viên với nguyên tắc sư phạm [60]. - Giáo dưỡng thể chất: Theo P.Lexgaphoto (1837-1909), là nhà bác học, nhà sư phạm, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng người Nga. Ông là người sáng lập ra học thuyết về giáo dưỡng thể chất, ông cho rằng: “Bản chất của giáo dưỡng thể chất là làm sao để học, tách riêng các cử động ra và so sánh chúng với nhau, điều khiển có ý thức các cử động đó và thích nghi với các trở ngại, đồng thời khắc phục các trở ngại đó sao cho khéo léo và kiên trì nhất” [44].

- Phát triển thể chất: “Là quá trình biến đổi và hình thành các tố chất tự nhiên về hình thái và chức năng cơ thể trong đời sống tự nhiên và xã hội. Hay nói cách khác, phát triển thể chất là một quá trình hình thành biến đổi tuần tự theo quy luật trong cuộc đời từng người về hình thái, chức năng kể cả những tố chất thể lực và năng lực vận động”[59]. Phát triển thể chất phụ thuộc nhiều vào yếu tố tạo thành và sự biến đổi của nó diễn ra theo quy luật di truyền và các quy luật phát triển sinh học tự nhiên theo lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp phương pháp và biện pháp giáo dục cũng như môi trường sống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất tại trường Đại học Phú Yên" của tác giả Nguyễn Minh Cường, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Tiên Tiến và TS. Lê Hồng Sơn, tập trung vào việc cải thiện chất lượng giáo dục thể chất tại trường Đại học Phú Yên. Nghiên cứu này không chỉ đưa ra các giải pháp cụ thể mà còn phân tích những thách thức hiện tại trong việc giảng dạy và tổ chức các hoạt động thể chất cho sinh viên. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức nâng cao chất lượng giáo dục thể chất, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn tại các cơ sở giáo dục khác.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu tương tự trong lĩnh vực giáo dục thể chất, hãy tham khảo thêm bài luận án tiến sĩ về chương trình giáo dục thể chất tự chọn cho sinh viên Đại học Quy Nhơn, nơi cũng đề cập đến việc xây dựng chương trình giáo dục thể chất phù hợp với nhu cầu của sinh viên. Ngoài ra, bạn có thể tìm hiểu về đổi mới nội dung và phương pháp tổ chức hoạt động thể thao ngoại khóa cho sinh viên tỉnh Sóc Trăng, một nghiên cứu khác cũng liên quan đến việc cải thiện hoạt động thể chất trong môi trường giáo dục. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn sâu sắc hơn về các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất.