Luận án về quản trị đại học công lập Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Tài liệu nghiên cứu Luận án quản trị trường đại học công lập việt nam trong bối cảnh hiện nay, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về kinh tế.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Quản Lý Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ
261
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN TRỊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Ý nghĩa của QTĐH

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN TRỊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VIỆT NAM

3. CHƯƠNG 3: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUẢN TRỊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

4. CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH QUẢN TRỊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VIỆT NAM VÀ CƠ CHẾ VẬN HÀNH TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC NGHIÊN CỨU

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của quản trị đại học công lập Việt Nam

Trong bối cảnh phát triển xã hội và khoa học công nghệ, quản trị đại học công lập Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức và cơ hội. Các trường đại học không chỉ là nơi đào tạo nhân lực chất lượng cao mà còn là trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ. Hệ thống giáo dục đại học (GDĐH) cần phải thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Đặc biệt, việc chuyển đổi từ mô hình sản xuất quy mô lớn sang quy mô nhỏ với giá trị lớn đòi hỏi các trường đại học phải đổi mới chương trình đào tạo và hình thành các ngành nghề mới. Điều này khẳng định vai trò của quản lý giáo dục trong việc nâng cao chất lượng GDĐH và đáp ứng nhu cầu xã hội.

1.1. Vai trò của giáo dục đại học trong phát triển kinh tế xã hội

GDĐH đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế. Các trường đại học không chỉ đào tạo mà còn nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, góp phần vào sự phát triển bền vững. Nhiều quốc gia đã nhận ra rằng GDĐH là một ngành dịch vụ tri thức cao cấp, ảnh hưởng trực tiếp đến GDP. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các trường đại học cần phải nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động để cạnh tranh với các cơ sở giáo dục khác trong khu vực và thế giới.

1.2. Thách thức trong quản trị đại học công lập

Quản trị đại học công lập Việt Nam hiện đang gặp nhiều thách thức, từ việc thiếu mô hình quản trị phù hợp đến việc chưa có cơ chế vận hành hiệu quả. Các trường đại học cần phải thay đổi cách thức quản lý để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Việc thiếu hụt lý luận và thực tiễn trong quản trị cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự kém hiệu quả trong hoạt động của các trường đại học. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất mô hình quản trị mới là cần thiết để nâng cao chất lượng GDĐH.

II. Cơ hội phát triển trong quản trị đại học công lập

Mặc dù gặp nhiều thách thức, quản trị đại học công lập Việt Nam cũng đứng trước nhiều cơ hội phát triển. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra nhiều cơ hội cho các trường đại học trong việc đổi mới phương thức giảng dạy và nghiên cứu. Việc áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quản lý giáo dục sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng đào tạo. Hơn nữa, sự gia tăng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục cũng tạo điều kiện cho các trường đại học Việt Nam tiếp cận với các mô hình quản trị tiên tiến từ các nước phát triển.

2.1. Đổi mới chương trình đào tạo

Để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, các trường đại học cần phải đổi mới chương trình đào tạo theo hướng linh hoạt và hiện đại. Việc tích hợp các kỹ năng mềm và kiến thức thực tiễn vào chương trình học sẽ giúp sinh viên tự tin hơn khi bước vào thị trường lao động. Đồng thời, các trường cũng cần chú trọng đến việc phát triển các ngành nghề mới phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội.

2.2. Tăng cường hợp tác quốc tế

Hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học không chỉ giúp nâng cao chất lượng đào tạo mà còn mở ra nhiều cơ hội cho sinh viên và giảng viên. Các trường đại học có thể học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình quản trị tiên tiến, từ đó áp dụng vào thực tiễn quản lý của mình. Hợp tác quốc tế cũng giúp các trường đại học Việt Nam nâng cao uy tín và vị thế trong khu vực và thế giới.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN TRỊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP QTĐH là vấn đề lớn và trải rộng, bao hàm nhiều hoạt động như QT hệ thống, QT chiến lược, QT hoạt động đào tạo, QT hoạt động nghiên cứu KHCN, QT nhân sự và nguồn nhân lực, QT tài chính, QT cơ sở vật chất… Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu từ QTĐH truyền thống cho đến các phương pháp QTĐH hiện đại; nghiên cứu chú trọng đến hiệu quả, chất lượng hoạt động QT, cũng như con người và các cấp độ QT khác nhau trong trường ĐH. Những nghiên cứu ở nước ngoài Những nghiên cứu về QTĐH ở nước ngoài tập trung vào một số vấn đề sau đây: 1. Xây dựng cơ sở pháp lý cho QTĐH Ở nhiều nước trên thế giới, người ta đã xây dựng Luật Quản trị GDĐH.

Đây là cơ sở pháp lý cho hoạt động QTĐH. Cách đây không lâu, vào năm 2014, Anh đã ban hành Luật Quản trị GDĐH sau khi lấy ý kiến tư vấn rộng rãi thành viên của Hội đồng hiệu trưởng các trường ĐH (CUC) và các bên liên quan của GDĐH. Mục đích của Luật là xác định các giá trị và các hoạt động chính cho QT có hiệu quả các cơ sở GDĐH của Anh. Tuy nhiên, để QT tốt các cơ sở GDĐH, không chỉ phụ thuộc vào áp dụng chỉ riêng Luật này.

Việc QT tốt đòi hỏi một tập hợp các mối quan hệ bền chặt dựa trên sự tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau và sự trung thực được duy trì giữa các chủ thể QT, từ Chủ tịch HĐT đến Hiệu trưởng và nhóm CBQL cốt cán. Nhằm thiết lập các giá trị cốt lõi, Luật này áp dụng và dựa trên “Các nguyên tắc Nolan về đời sống công cộng”, là bộ quy tắc cung cấp khung đạo đức đối với các phẩm chất cá nhân của những người QT. GDĐH chất lượng cao nhằm duy trì lòng tin của công chúng và bảo vệ uy tín của hệ thống GDĐH trên nền tảng một số giá trị chung. Sự thất bại trong việc áp dụng và thực thi các giá trị chung trong 11 thực tế QT sẽ gây hậu quả ngoài mong muốn của trường ĐH, làm ảnh hưởng đến uy tín chung của các cơ sở GDĐH Anh.

Ngoài ra, do bản chất của GDĐH, Luật này cũng dựa trên kỳ vọng rằng các chủ thể QT, cùng với những ràng buộc cụ thể trong Luật, sẽ cam kết: Tự chủ như là sự bảo đảm tốt nhất đối với chất lượng và uy tín quốc tế; Tự do học thuật và nghiên cứu, học bổng và giảng dạy chất lượng cao; Bảo vệ lợi ích chung của SV thông qua sự QT tốt; Công bố thông tin chính xác và minh bạch, công chúng có thể truy cập; Ghi nhận rằng để có sự kiểm soát kinh phí nhận được từ các bên liên quan đòi hỏi thì các cơ sở GDĐH phải nhận thức rõ rằng, họ đang thực hiện hợp đồng với các bên liên quan, là người trả tiền cho các dịch vụ và mong muốn rõ ràng về những gì họ nhận được; Thành tựu công bằng về cơ hội và sự đa dạng trong toàn cơ sở GDĐH; Nguyên tắc GDĐH phải sẵn sàng đối với tất cả những người có thể hưởng lợi từ GDĐH; Kiểm soát được một cách đầy đủ và minh bạch đối với ngân sách công. Trong từng cơ sở GDĐH, điều quan trọng là, Ban lãnh đạo, Bộ phận QT và Thư ký phải phát triển một nhận thức chung về các kỳ vọng nói trên và về cách thức áp dụng từng yếu tố cơ bản riêng rẽ của Luật. Việc QT tốt không chỉ đòi hỏi phát triển các quy trình mà còn phải phát triển các mối quan hệ bền chặt, sự đối thoại trung thực và sự tôn trọng lẫn nhau [113]. Như vậy, QTĐH cần phải được “luật hóa”, nhằm tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động QT trong trường ĐH và sự tham gia của các bên liên quan.

Vì thế, ban hành Luật QTĐH là yêu cầu cấp thiết đối với sự phát triển GDĐH của mỗi quốc gia. Ý nghĩa của QTĐH Vấn đề này đã được nhiều tác giả quan tâm, do tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động QT trong trường ĐH. Theo tác giả Baldridge [75], QT tốt là trái tim của GDĐH; hoạt động QT hình thành vận mệnh của một trường ĐH. QTĐH đúng đắn là tâm điểm thành công hoặc thất bại của bất kỳ trường ĐH nào.

12 Xem xét ý nghĩa của QTĐH trong mối quan hệ với chất lượng trường ĐH, các tác giả Henard và Mitterle [96] cho rằng, QTĐH đã trở thành công cụ đòn bẩy chính để cải thiện chất lượng trong mọi lĩnh vực của GDĐH. Còn theo tác giả Shattock [111], QTĐH là một trong những “mảnh ghép” quan trọng của bất cứ hệ thống GDĐH nào. Sự cải thiện đối với hoạt động này có thể sẽ có những ảnh hưởng quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo của cả hệ thống GDĐH. Một số tác giả khác [72], [102], [103]., cũng nhấn mạnh, điều cốt lõi căn bản để trở thành trường ĐH hàng đầu thế giới chính là hệ thống QT hàng đầu.

Như vậy, theo Salmi, QT thuận lợi là một trong ba nhân tố của một trường ĐH tầm cỡ quốc tế (hình 1. Chú trọng vào năng khiếu/năng lực Nguồn lực phong phú Sự quản trị thuận lợi Hình 1.1 : Các nhân tố của một trường ĐH tầm cỡ quốc tế (theo Salmi) 13 Trước đó, Conley [85] cũng đề cập tới 3 nhân tố khả biến đối với thành công của trường ĐH nhưng dưới một góc nhìn khác. Theo tác giả, nhân tố trung tâm, đó là giảng dạy, học tập, thành quả học tập, chương trình giảng dạy, kiểm tra, đánh giá; nhân tố kích hoạt, đó là công nghệ, môi trường; nhân tố bổ trợ, đó là QTĐH. Tuy là nhân tố bổ trợ nhưng QTĐH đóng một vai trò quan trọng.2 : Các nhân tố khả biến đối với thành công của trường ĐH (theo Conley) 1.

Các nguyên lý trong QTĐH Tác giả Middlehurst [105] cho rằng, trong QTĐH cần quán triệt các nguyên lý cơ bản sau đây: Sự phù hợp về mục tiêu + sự phù hợp với mục tiêu; sự phù hợp với bối cảnh; khả năng hoạt động, tính linh động, cởi mở, rõ ràng và minh bạch trong cơ cấu; quyền tự chủ về đào tạo và quản lý; chịu trách nhiệm; cạnh tranh; lãnh đạo thể chế. Các trường ĐH, tùy theo từng thời điểm có thể ưu tiên thực hiện nguyên lý này hay nguyên lý khác hoặc thực hiện đồng thời tất cả các nguyên lý. Cơ cấu QTĐH Các tác giả Henard & Mitterle [96] cho rằng, cơ cấu của QTĐH có một số đặc điểm sau đây: Dựa trên những nguyên lý về QTĐH đã được thiết lập; 14 Hữu ích đối với các nhà lãnh đạo; đặc tính cố vấn; đặc tính tự nguyện (hoặc bắt buộc); không cố định, cứng nhắc; thường xuyên được cập nhật và thảo luận với tất cả các nhóm đối tác liên đới. Từ đó, các tác giả này đã phân biệt 3 cấp độ QT trường ĐHCL: 1) Nội bộ hoặc cấp cơ sở: QT các cơ sở GDĐH; 2) Bên ngoài hoặc cấp hệ thống: QT hệ thống GDĐH; 3) Quốc tế hoặc toàn cầu: QT hệ thống GDĐH theo quan điểm quốc tế.

Tuy nhiên các cấp độ này có sự phụ thuộc lẫn nhau. Trong luận án, chỉ đề cập đến QT cấp cơ sở (trường ĐHCL). Quản trị đại học tốt Khái niệm QT tốt bắt nguồn từ đầu những năm 90 của thế kỉ trước và được Fried hiểu như là một cấu trúc “cố gắng bảo toàn tính toàn vẹn của hệ thống giá trị học thuật, đồng thời định vị các trường ĐH đối với môi trường rộng lớn hơn của chúng để giúp các trường tiếp nhận và trả lời các thông điệp, yêu cầu và mong đợi bên ngoài” [92; tr. Các tác giả Henard & Mitterle đã đi sâu nghiên cứu những biện pháp để QTĐH tốt.

Các biện pháp này bao gồm: 1) Minh bạch hóa các thủ tục và nghĩa vụ của trường ĐH; 2) Công bố cơ chế QT của trường ĐH; 3) Thiết lập cơ cấu trong cung cấp GDĐH, cách thức các bên tham gia có thể thực hiện; 4) Chú trọng QT tập thể; 5) Đảm bảo mối quan hệ giữa QT và sự tự chủ trong trường ĐH, “không thể có QT tốt mà thiếu sự tự chủ và không thể có sự tự chủ mà không có QT tốt” [96; tr. Những nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, các nghiên cứu về QTĐH xuất hiện chủ yếu từ những năm 2000 trở lại đây và tập trung vào những vấn đề sau đây: 1. Sự cần thiết phải đổi mới QTĐH Khi hệ thống GDĐH Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản, đặc biệt là sự đa dạng hóa sở hữu các trường ĐH, các loại hình đào tạo cũng như đòi hỏi của các nhà tuyển dụng., thì phương thức QTĐH cũng phải đổi mới. Có đổi mới QTĐH mới tạo nên sự “bứt phá” trong phát triển của GDĐH Việt Nam, 15 mới giúp GDĐH Việt Nam tìm thấy tiếng nói chung với GDĐH trong khu vực và trên thế giới.

Công trình nghiên cứu của các tác giả Lưu Tiến Hiệp [18], Đào Văn Khanh [26], Phạm Thị Ly [34], Đỗ Tiến Sĩ [57], Phạm Đỗ Nhật Tiến [65]., tuy diễn đạt khác nhau nhưng đều khẳng định sự cần thiết phải đổi mới QTĐH. Tác giả Ngô Tuyết Mai [36] lại gắn sự cần thiết phải đổi mới QT trường ĐHCL với nâng cao chất lượng đào tạo. Từ nhận định hệ thống QTĐH của Việt Nam hiện kém hiệu quả, tác giả Ngô Bảo Châu đã nhấn mạnh yêu cầu đổi mới hoạt động QT trong các trường ĐH nước ta bằng việc thiết kế bộ tiêu chí đánh giá chất lượng QT của các trường ĐH. Tự chủ và tự chịu trách nhiệm là yếu tố cốt lõi của quản trị trường ĐH - Ý nghĩa của tự chủ, tự chịu trách nhiệm Tác giả Trần Hồng Quân cho rằng, TCĐH là xu thế phát triển tất yếu của GDĐH, “là thuộc tính của GDĐH” [51; tr.

Theo các tác giả Nguyễn Đông Phong và Nguyễn Hữu Huy Nhựt: “TCĐH chính là yếu tố cốt lõi của nền giáo dục hiện đại”; “Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm chính là chìa khóa cho đổi mới quản trị trường ĐH, giúp giải quyết hàng loạt các vấn đề trong hệ thống GDĐH hiện nay cũng như trong tương lai” [41; tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về quản trị đại học công lập Việt Nam trong bối cảnh hiện nay" khám phá những thách thức và cơ hội mà các trường đại học công lập tại Việt Nam đang phải đối mặt trong thời đại hiện đại. Luận án này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình quản lý giáo dục mà còn đưa ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản trị trong các cơ sở giáo dục công lập. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức cải thiện chất lượng giáo dục và quản lý tài chính, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của hệ thống giáo dục đại học tại Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý giáo dục, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Luận án tiến sĩ về quản lý đào tạo theo đặt hàng tại Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội, nơi đề cập đến các phương pháp quản lý đào tạo hiệu quả trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ về quản lý đội ngũ giảng viên các trường đại học địa phương trong bối cảnh hiện nay cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về cách thức quản lý nhân lực trong giáo dục. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ về quản lý chất lượng đào tạo đại học từ xa ở Việt Nam theo tiêu chuẩn AAOU sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các tiêu chuẩn chất lượng trong giáo dục đại học. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên hữu ích để bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quản lý giáo dục tại Việt Nam.