đặt vấn đề nghiên cứu. Là phát hiện vấn đề và tìm kiếm câu hỏi cần được giải đáp trong quá trình nghiên cứu. Có nhiều phương pháp phát hiện vấn đề, như phân tích theo cấu trúc logic của các tài liệu thu thập được; nhận dạng những bắt đồng trong tranh luận tại các hội nghị thảo luận; nghĩ ngược lại những quan điểm thông thường; nhận dạng. những vướng mắc trong hoạt động thực tế; lắng nghe lời phản nàn của những người không am hiểu; những câu hỏi bắt chợt xuất hiện không phụ thuộc lý do nào.
20 Vấn đề nghiên cứu là câu hỏi được đặt ra khi người nghiên cứu đứng trước những mâu thuẫn giữa tính hạn chế của tr thức hiện có với các yêu cầu phát triển tri thức đó ở trình độ cao hơn. 3) Đặt giả thuyết nghiên cứu (hay luận đề). Đây là những nhận định sơ bộ về bản chất sự vật, do người nghiên cứu đưa ra, là hướng nghiên cứu sẽ thực hiện các quan sát hoặc điều tra thực nghiệm để chứng. minh hay bác bỏ đối tượng nghiên cứu.
~_ Tiêu chí xem xét một giả thuyết là giả thuyết phải được xây dựng trên cơ sở quan sát, không được trái với lý thuyết và có thể kiểm chứng. ~_ Bản chất logic của giả thuyết là một phán đoán, nằm ở vị trí luận đề trong. cấu trúc logic của chuyên khảo khoa học và chính là điều mà người nghiên cứu phải chứng minh. - Khi xây dựng giả thuyết, cần nắm vững các nguyên tắc nhận dạng chuẩn xác loại hình nghiên cứu, tìm mối liên hệ giữa giả thuyết với vấn đẻ khoa học.
~_ Phương pháp đưa ra một giả thuyết khoa học là người nghiên cứu cần phải quan sát, phát hiện được a giả thuyết chính là đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đã đặt ra. Quá trình liên kết, chấp nối các sự kiện, các số liệu thu thập được từ trong quan sát, thực nghiệm đề đưa ra một giả thuyết chính là quá trình suy luận, là một phạm trù của logic học hình thức. ~_ Kiểm chứng giả thuyết là khẳng định hoặc phủ định giả thuyết và được thực. hiện nhờ vào các thao tác logic chứng minh hoặc bác bỏ.
~_ Chứng minh, hay bác bỏ một giả thuyết là sự vận dụng các quy tắc logic và các phương pháp thu thập và xử lý thông tin (luận chứng), tìm kiếm cơ sở lý thuyết hoặc thực nghiệm khoa học (luận cứ) để khẳng định tính đúng đắn, hay tính sai luận của giả thuyết. 4) Xây dựng luận chứng (tìm luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tiễn - Thu thập thông tin hay dữ liệu). Nội dung cơ bản của xây dựng luận chứng là dự kiến kế hoạch thu thập và xử lý thông tin, lên phương án chọn mẫu khảo sát; dự kiến tiến độ, phương tiện và phương pháp quan sát hoặc thực nghiệm. ~ __ Các loại thông tin bao gồm: cơ sở lý thuyết liên quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu; kết quả nghiên cứu của những người thực hiện trước; sự kiện hoặc số liệu; tài liệu thống kê.
~_ Các dạng tồn tại của thông tin: 21 + Tài liệu thành văn: tác phẩm khoa học, sách giáo khoa, tạp chí chuyên ngành, báo chí, các báo cáo khoa học, tài liệu trên giấy, vải, gỗ, đá, kim loại. + Hiện vật: dạng tồn tại trong thực tế của vật chất. -_ Các phương pháp chủ yếu để thu thập thông tin: nghiên cứu tài liệu hoặc đối thoại trực tiếp; quan sát trên đối tượng khảo sát; thực nghiệm trực tiếp trên đối tượng khảo sát hoặc trên những vật mô phỏng. ~_ Phương pháp tiếp cận thu thập thông tin: là sự lựa chọn chỗ đứng để quan sát đối tượng nghiên cứu, là sự khởi đầu của quá trình tiếp xúc với đối tượng nghiên cứu, là sự đi trước của tư duy trước khi bắt tay thực hiện những thao tác cụ thể của quá trình thu thập thông tin.
Tiếp cận thu thập thông tin bao gồm: tiếp cận hệ thống có cấu trúc; tiếp cận định tính và định lượng; tiếp cận tất nhiên và ngẫu nhiên; tiếp cận lịch sử và logic; tiếp cận cá biệt và so sánh; tiếp cận phân tích và tổng hợp, ~_ Phương pháp nghiên cứu tải liệu: mục đích là tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, nắm bắt những nội dung người di trước đã làm, không mắ thời gian lặp lại những công việc người đi trước đã thực hiện. Nội dung phân tích có thể bao gồm: phân tích nguồn, phân tích tác giả, phân tích nội dung và tổng hợp tài liệu. ~ Phương pháp phi thực nghiệm: là phương pháp thu thập thông tin dựa trên sự quan sát, quan trắc những sự kiện đã hoặc đang tồn tại, trên cơ sở đó phát hiện quy luật của sự vật hoặc hiện trượng. Trong phương pháp phi thực nghiệm, người nghiên cứu chỉ quan sát những gì đã và đang tồn tại, không có bắt cứ sự can thiệp nào gây biến đôi trạng thái của đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp phi thực nghiệm bao gồm: quan sát khách quan; phỏng vấn; phương pháp hội đồng; điều tra bằng bảng hỏi. ~_ Phương pháp thực nghiệm: chủ yếu được sử dụng trong các ngành khoa học thực nghiệm. Đây là phương pháp thu thập thông tin bằng cách quan sát trong điều. kiện có gây biến đồi đối tượng khảo sát một cách chủ định.
Bằng cách thay đổi tham số, người nghiên cứu có thể thu được những kết quả mong muốn, như: tách riêng từng phần thuần nhất của đối tượng nghiên cứu để quan sát; biến đổi các điều kiện tồn tại của đối tượng nghiên cứu; rút ngắn được thời gian tiếp cận trong quan sát; tiến hành những thực nghiệm lặp lại nhiều lần để kiểm tra lẫn nhau; không bị hạn chế về không gian và thời gian. 5) Xử lý thông tin, phân tích. Kết quả thu thập thông tin từ công việc nghiên cứu tài liệu, số liệu thống kê, quan sát hoặc thực nghiệm tồn tại dưới hai dạng: Định tính và định lượng (các số 2 liệu). Các sự kiện và số liệu cần được xử lý để xây dựng các luận cứ, làm bộc lộ các quy luật, phục vụ việc chứng minh hoặc bác bỏ các giả thuyết.
Đánh giá mặt mạnh, mặt yếu, chỉ ra những sai lệch đã mắc phải trong quan sát, thực nghiệm, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của những sai lệch ấy, mức độ có thê chấp nhận trong kết quả nghiên cứu. 6) Tổng hợp kết quả, kết luận, khuyến nghị. Tổng hợp để đưa ra bức tranh khái quát về kết quả nghiên cứu. Đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của kết quả nghiên cứu.
Khuyến nghị khả năng áp dụng kết quả va định hướng tiếp tục nghiên cứu hoặc chấm dứt sự nghiên cứu. QUẦN LÝ HOẠT ĐỘNG NCKH CỦA GIẢNG VIÊN TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Theo John Taylor, trình bày trong công trình “Quản lý nghiên cứu trong các trường đại học chuyên sâu về nghiên cứu ” [19, tr.125] thì “nghiên cứu là một hoạt động cực kỳ cá nhân, phụ thuộc rất nhiều vào ý tưởng và khả năng tưởng tượng của một cá nhân hay một nhóm nghiên cứu”. Đồng thời, cũng theo Iohn Taylor “Hoạt động nghiên cứu gắn kết tuyệt đối với niềm tin cơ bản về tự do học thuật và cơ hội thách thức những định kiến đã tôn tại từ lâu. Hơn thế nữa, nghiên cứu, từ trong bản chat của nó, là một hoạt động không thể nào dự đoán trước được.
Nó có thể tới những phương hướng mà ta không thấy trước được và mang lại những hệ quả có thể ta không ngờ tới hay không mong đợi. Chính sự không thể dự đoán trước ấy lại thường khi mang đến những kết quả quan trọng nhất và bởi vậy được hoan nghênh thay vì bị kìm chế. Và bởi thể, hoạt động nghiên cứu là một hoạt động phức tạp có. những ràng buộc đòi hỏi phải áp dụng ít nhiều hình thức quản lý.
Thực tế tại các cơ sở giáo dục, quản lý hoạt động NCKH thường được thực hiện theo những trình tự nhất định, đảm bảo chặt chẽ và hệ thống từ việc lập kế hoạch, tổ chức triển khai kế hoạch, kiểm tra giám sát và đánh giá hoạt động. 'Việc quản lý hoạt động NCKH cũng bị chỉ phối bởi nhiều yếu tố khác quan và chủ quan, bởi thế việc quản lý hoạt động NCKH nhằm kiểm soát được các tác động. của các yếu tố đó đến mục tiêu của hoạt động NCKH, quản lý sự thay đôi của hoạt động NCKH để từ đó có thể xử lý có hiệu quả sự biến động của môi trường bên trong và bên ngoài, duy trì sự ôn định và phát triển của hoạt động NCKH. Việc quản lý hoạt động NCKH còn phải quản lý cả về chất lượng và số các hoạt động NCKH.
Xem xét cụ thể việc quản lý hoạt động nghiên cứu, Bland and Ruffin (1992) xác định 12 đặc điểm của một môi trường nghiên cứu tốt như sau: 23 - Có những mục tiêu rõ ràng nhằm phục vụ chức năng phối hợp - Nhắn mạnh hoạt động nghiên cứu. - Văn hóa nghiên cứu đặc bi - Không khí làm việc nhóm tích cực. - Cơ chế quản trị có sự tham gia của nhiều bên, khuyến khích sự tự khẳng định. - Tổ chức được phân quyền - Giao tiếp thường xuyên.
- Có những nguồn lực có thể tiếp cận được (đặc biệt là nguồn lực con người). - Có quy mô vừa đủ, có các nhóm nghiên cứu đa dạng và bao gồm nhiều lứa tuổi. - Có chế độ khen thưởng thích hợp. - Tập trung vào việc tuyển dụng và lựa chọn nhân sự.
- Lãnh đạo với sự am hiểu sâu sắc về hoạt động nghiên cứu và có kỹ năng khởi xướng một cấu trúc tổ chức thích hợp cũng như thực thi quan lý theo cách đảm bảo. cho nhiều bên tham gia vào quá trình ra quyết định. 'Bên cạnh đó, muốn làm tốt công tác quản lý hoạt động NCKH mỗi nhà trường. và bộ phận quản lý phải làm tốt các công tác sau - Xác định rõ rằng sứ mạng của nhà trường.
- Xác định rõ những lĩnh vực nghiên cứu ưu tiên. - Xác định rõ những chính sách nhằm cân đối nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. - Xác định rõ những chính sách nhằm hỗ trợ sự phát triển của địa phương. - Xác định rõ những chính sách về minh bạch mọi hoạt động và trách nhiệm giải trình với xã hội trong việc sử dụng tài chính.
Nhằm phân tích sự đáp ứng của các trường trong việc quản lý NCKH trước những thách thức nảy sinh do môi trường giáo dục đang thay đổi.