Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC TRẢI NGHIỆM MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Cùng với sự phát triển của xã hội, dạy học đã luôn được đổi mới cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức cũng như kiểm tra đánh giá. Đối với phương Tây, vấn đề đặt ra trong dạy học và quản lý hoạt động dạy học là: học cái gì, học như thế nào và dạy ra sao để người học lĩnh hội tri thức và vận dụng tri thức vào vào thực tiễn nhanh nhất.
Ở phương Đông, việc đổi mới dạy học và quản lý dạy học trong nhà trường cũng được chú ý với quan điểm: Dạy học gắn với thực tiễn, dạy học theo đối tượng. Tư tưởng giáo dục về học qua trải nghiệm (experiential education) đã xuất hiện sơ khai từ thời cổ đại, song nó chỉ thực sự phát triển và trở thành một tư tưởng giáo dục chính thống và phát triển thành học thuyết khi có những công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học, giáo dục học nổi tiếng trên thế giới. Trải nghiệm được coi là phương pháp, xu hướng giáo dục. Vấn đề tổ chức hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học được nhiều tác giả nghiên cứu như: J.
Comenxki (1592 - 1670) trong tác phẩm “Phép giáo huấn vĩ đại” đã đưa ra quan điểm quá trình dạy học phải dựa vào các sự vật hiện tượng do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ để tìm ra, chứ không nên áp đặt học sinh chấp nhận bất kỳ điều gì. Ông đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn như: Nguyên tắc trực quan, nguyên tắc củng cố kiến thức, nguyên tắc dạy học theo khả năng tiếp thu của học sinh; dạy học phải thiết thực và dạy học theo nguyên tắc cá biệt [13]. Tác giả David A Kolb, trong công trình nghiên cứu “Học từ trải nghiệm” đã đưa ra lý thuyết nghiên cứu trực tiếp đến hoạt động GD trải nghiệm trong dạy học. Trong lý thuyết này, Kolb cũng chỉ ra rằng “Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm.
Học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm những khác ở chỗ là nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân”. Lý thuyết “Học từ trải nghiệm” là cách tiếp cận về phương pháp học đối với các lĩnh vực nhận thức. Nếu như mục đích của việc dạy học chủ yếu là hình thành và phát triển hệ thống tri thức khoa học, năng lực và hành động 5 khoa học cho mỗi cá nhân thì mục đích hoạt động giáo dục là hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, sự đam mê, các giá trị, kĩ năng sống và những năng lực chung khác cần có ở con người trong xã hội hiện đại. Để phát triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của người học; nhưng để phát triển và hình thành phẩm chất thì người học phải được trải nghiệm.
Như vậy, trong lý thuyết của Kolb, trải nghiệm sẽ làm cho việc học trở nên hiệu quả bởi trải nghiệm ở đây là sự trải nghiệm có định hướng, có dẫn dắt chứ không phải sự trải nghiệm tự do, thiếu định hướng [17]. Trong cuốn sách “Giáo dục học” tập 3, tác giả T.Ilina đã nêu: Công tác giáo dục ngoại khóa bổ sung và làm sâu thêm công tác giáo dục nội khóa, trước tiên là phương tiện để phát hiện đầy đủ tài năng và năng lực của trẻ em, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của học sinh đối với một hoạt động nào đó; đó là một hình thức tổ chức giải trí của học sinh và là cơ sở để tổ chức việc thực hiện về hành vi đạo đức, để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này [12]. Công trình nghiên cứu về “Những vấn đề quản lý trường học” của tập thể các tác giả dưới sự chủ biên của P.Xaxerđôtốp, đã đề cập đến những nguyên tắc quản lý của Lênin về sự lãnh đạo nền giáo dục nhân dân để xây dựng cơ sở lý luận khoa học quản lý giáo dục. Đây là công trình nghiên cứu về các vấn đề quản lý dạy học, được dịch sang tiếng Việt năm 1985 [18].
Công trình nghiên cứu về “Tuyển tập tâm lí học” của các tác giả, J. đã cho rằng TN làm nên sự phát triển của trẻ, hiểu biết được xây dựng thông qua sự tham gia tích cực của trẻ trong môi trường; khi tương tác với môi trường trẻ sẽ thay đổi kiến thức hiện có; kinh nghiệm quá khứ thường ảnh hưởng tới kinh nghiệm hiện tại và tương lai. Giữa thế kỉ XX, nhà khoa học giáo dục nổi tiếng người Mĩ, John Dewey, với tác phẩm “Kinh nghiệm và Giáo dục” đã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trường và đưa ra quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục. Với triết lí giáo dục đề cao vai trò của kinh nghiệm, Dewey cũng chỉ ra rằng, những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối những kiến thức được học với thực tiễn cuộc sống [15].
Một số tác giả khi nghiên cứu về dạy học trải nghiệm đã rất coi trọng và khuyến khích mối liên hệ giữa các bài học trừu tượng với các hoạt động giáo dục cụ thể để tối ưu hóa kết quả học tập (Sakofs, 1995); học từ trải nghiệm phải gắn kinh nghiệm của người 6 học với hoạt động phản ánh và phân tích (Chapman, McPhee and Proudman, 1995); chỉ có kinh nghiệm thì chưa đủ để được gọi là trải nghiệm; chính quá trình phản ánh đã chuyển hóa kinh nghiệm thành trải nghiệm giáo dục (Joplin, 1995) [23]. Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của hoạt động trải nghiệm, chẳng hạn: Khái niệm trải nghiệm, vai trò của trải nghiệm, vấn đề xây dựng mục tiêu, kế hoạch hoạt động trải nghiệm. Điều cơ bản là các nghiên cứu đã khẳng định việc tham gia các hoạt động trải nghiệm thực tế sẽ tạo cho học sinh cơ hội sáng tạo dám nghĩ, dám làm, chủ động trong việc lĩnh hội tri thức. Ở Việt Nam Trong mọi giai đoạn lịch sử, các quốc gia đều mong muốn có một nền giáo dục phát triển.
Vấn đề quản lý dạy học trong các nhà trường không chỉ có các tác giả nước ngoài nghiên cứu mà trong nước cũng có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ở các góc độ khác nhau. Chương trình giáo dục phổ thông mới do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành (2018), phân biệt rõ hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12). Chương trình giáo dục phổ thông mới chú ý hơn đến tính kết nối giữa chương trình của các lớp học, cấp học trong từng môn học và giữa chương trình của các môn học trong từng lớp học, cấp học. Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo để tăng cường những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kỳ vọng [1].
Các tác giả Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Thị Kim Dung trong công trình nghiên cứu “Quan niệm về hoạt động trải nghiệm và một số hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh phổ thông”, đã đề cập đến hoạt động TN như là một hoạt động mang tính tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực giáo dục giúp phát triển sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể. Đây là những hoạt động giáo dục được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để học sinh trải nghiệm và sáng tạo. Điều đó đòi hỏi các hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động TN phải đa dạng, linh hoạt, học sinh tự hoạt động, trải nghiệm là chính. Ở đây, tác giả cũng đưa một số phương pháp cơ bản mà giáo viên cần được trang bị để tổ chức các hoạt động TN cho học sinh: Phương pháp giải quyết vấn đề; Phương pháp sắm vai; 7 Phương pháp làm việc nhóm; Phương pháp trò chơi.
Tùy theo tính chất và mục đích của từng hoạt động cụ thể cũng như điều kiện, khả năng của các em mà giáo viên có thể lựa chọn một hay nhiều phương pháp phù hợp. Điều quan trọng là phương pháp được lựa chọn cần phát huy cao độ vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh và khai thác tối đa kinh nghiệm các em đã có [9]. Theo tác giả Bùi Ngọc Diệp, trong công trình nghiên cứu “Hình thức tổ chức các hoạt động TN trong nhà trường Phổ thông”, đã trình bày quan điểm về hoạt động TN: Hoạt động TN trong nhà trường phổ thông được thực hiện nhằm mục tiêu đào tạo ra những con người có chí hướng, có đạo đức, có định hướng tương lai, có năng lực sáng tạo, biết vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời biết chia sẻ và quan tâm tới mọi người xung quanh. Hoạt động TN về cơ bản mang tính chất là các hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực nhằm phát triển năng lực sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể.
Và các hình thức tổ chức hoạt động TN: Hoạt động câu lạc bộ; Tổ chức trò chơi; Tổ chức diễn đàn; Sân khấu tương tác; Tham quan dã ngoại, Hội thi/ Cuộc thi; Tổ chức sự kiện; Hoạt động giao lưu; Hoạt động chiến dịch; Hoạt động nhân đạo. Tùy thuộc vào đặc trưng về văn hóa, khí hậu, đặc điểm vùng miền, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, nhà trường có thể lựa chọn nội dung và hình thức tổ chức sao cho phù hợp và hiệu quả [4]. “Hoạt động trải nghiệm - Hoạt động quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới”, do tác giả Đinh Thị Kim Thoa, đã đề cập đến sự khác biệt giữa học đi đôi với hành, học thông qua làm và học từ trải nghiệm: “Thực hành, trải nghiệm đều là những phương thức học hiệu quả, gắn với vận động, với thao tác vật chất, với đời sống thực.