Chương 1: Giới thiệu Chương này giới thiệu tổng quan về vấn để nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và dữ Hiệu nghiên cứu cũng như đóng góp và cấu trúc của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tông quan nghiên cứu Chương này trình bày các khái niệm, các lý thuyết và các lập luận. Đồng thời, giới thiệu tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây. Dựa vào nên tảng đó, xác định được các yếu tổ tác động đến hành vi chia sẻ kiến thức của sinh viên.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày quy trình nghiên cứu bao gồm việc đề xuất mô hình nghiên cứu, xây dựng thang đo, chọn mẫu, việc thu thập dữ liệu. Đồng thời, diễn giải cu thé, chi tiết phương pháp nghiên cứu đã nêu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Các kết quả đạt được sau phân tích dữ liệu được trình bày trong chương này. Đồng thời, thống kê mô tả dữ liệu thu thập, kiểm định giá thuyết và sự phù hợp của mô hỉnh nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận CHUONG 2. CO SO LY THUYET VA TONG QUAN NGHIEN CUU 2. Khái niệm kiến thức “Kiến thức là tiến trình hoạt động của con người để chứng minh niềm tin cá nhân về cái mình cho là “chân lý” (Nonaka và Takeuchi, 1995). Theo Davenport và Prusak (1998) “Kiến thức là tập hợp những kinh nghiệm, giá trị, thông tin theo từng hoàn cảnh cụ thê và sự hiểu biết sâu sắc của từng cá nhân để xây dựng mô hình đánh giá và kết hợp với nhau để tạo ra kinh nghiệm mới và thông tin mới”.
Trong các tổ chức, kiến thức không chỉ xuất hiện trong các tài liệu và kho lưu trữ dữ liệu mà còn tồn tại trong từng thói quen, quá trình làm việc thực tế cùng với các chuẩn mực của tô chức. Thêm vào đó, kiến thức là việc sử dụng đầy đủ các thông tin và dữ liệu kết hợp cùng với những kỹ năng, năng lực, ý tưởng, trực giác, cam kết và động lực con người. “Kiến thức thường bị nhằm lẫn với thông tin nhưng xét về mặt tổng quát, thực chất tri thức và thông tin là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau” (Grey, 2007). Thông tin tập hợp các dữ liệu cho từng mục đích được xác định rõ ràng trong khi kiến thức được xem là một quá trình tong hợp các động lực, khả năng và chia sẻ sự hiểu biết.
Trong thực tế con người có thể dễ dang chia sẻ thông tin nhưng hầu như rất khó để chia sẻ kiến thức. Cần phải phân biệt giữa “chia sẻ kiến thức” và “chia sẻ thông tin”. Chia sẻ kiến thức là chia sẻ thông tin nhưng không phải cứ chia sẻ thông tin là chia sẻ kiến thức. Một người muốn chia sẻ kiến thức cần có những kinh nghiệm, hiểu biết thông qua học tập, nhận thức hoặc khám phá.
Việc truyền thông tin để đàng thông qua các phương tiện khác nhau, tức là tín hiệu bằng lời nói hoặc không bằng lời nói. Ngược lại, việc chuyên giao kiến thức khó hơn, bởi vì nó đòi hỏi phải học từ phía người nhận. Với những người khác kiến thức được xác định rất rõ là tài sản bên trong của từng cá nhân và được sử dụng để phán ứng khi có vấn đề xảy ra. Nói một cách khác kiến thức là sự tông hợp thông tin, đữ liệu và kinh nghiệm.
Matensson (2000) khẳng định kiến thức là nhân tố cơ bản, có thể ứng dụng thành công giúp tổ chức tạo ra các sản phẩm và dịch vụ sáng tạo khác nhau. Nhưng (Grey, 2007) cho rằng “Kiến thức là những ý tưởng hay sự hiểu biết được một cá nhân sở hữu sử dụng để thực hiện các hành động một cách hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu của tô chức”. Có thể thấy, kiến thức được xem là nguồn tài nguyên vô tận không cạn kiệt trong quá trình sử dụng rất khó sao chép đánh giá và lựa chọn nhưng mang đến cho người sở hữu nó lại hoàn hóa độc đáo và duy nhất. Bartol và Srivastava (2002) coi kiến thức là một khái niệm rộng “bao gồm thông tin, ý tưởng và kiến thức chuyên môn” phủ hợp với các nhiệm vụ được thực hiện bởi các cá nhân, nhóm, đơn vị làm việc và tổ chức nói chung.
Dù biết rằng kiến thức được xác định rất rõ là tài sản bên trong của từng cá nhân và được sử dụng để phán ứng khi có vấn đề xáy ra, nhưng thật không may, mọi người không chia sẻ kiến thức của họ trong mọi hoàn cảnh. Họ có đủ lý do để không chia sẻ nhiều như tổ chức muốn họ, đặc biệt là đối với sinh viên ngày nay. Điều đó cho thấy kiến thức khác với con người, tiền bạc, máy móc hay nói đúng hơn kiến thức là sự hiểu biết của con npười về một lĩnh vực chuyên biệt mà họ đã quan tâm và có được thông qua nghiên cứu và trải nghiệm của chính bản thân. Phân loại kiến thức Có nhiều nghiên cứu đưa ra quan niệm khác nhau về kiến thức, tuy nhiên điểm chung của hầu hết các nghiên cứu là kiến thức bao gồm hai loại là kiến thức ấn và kiến thức hiện.
Theo Nonaka và Takeuchi (1995), kiến thức hiện (explicit knowledge) là kiến thức có thê diễn đạt bằng ngôn ngữ hình thức. Có thể biêu điễn bằng các công thức khoa học, các thủ tục tường minh, hoặc nhiều cách khác. Bao gồm thông tin, dữ liệu, sách báo, văn bản, tài liệu đã được hệ thống bằng nhiều phương tiện. Kiến thức an (tacit knowledge) 1A kién thức có được và ân chứa trong kinh nghiệm của từng cá nhân, mang tính chủ quan, bao gồm những hiểu biết riêng thấu đáo, trực giác, linh cảm, kỹ năng,.
Grant (2007) xem kiến thức ân như khá năng hay kỹ năng của một cá nhân dé làm một cái gì đó hoặc để giái quyết một vấn đề đó là một phần dựa trên kinh nghiệm và học tập của mình. Vì thế mà kiến thức được phân ra làm hai loại: Kiến thức từ hoạt động tô chức: theo Cabrera (2002) ảnh hưởng bởi văn hóa tô chức và được định nghĩa bởi tổ chức, gồm kiến thức hiện hữu va an đi của các thành viên trong nhóm từ quá khứ đến hiện tại, được xem là chiến lược và tài sản không nhìn thấy được của tổ chức. Bao gồm các đặc tính sau đây: Thứ nhất là không thể sao chép vì kiến thức của tô chức nhóm là duy nhất. Thứ hai là trở nên hiểm có vì thực chất nó còn phụ thuộc và kiến thức và kinh nghiệm của các thành viên ở quá khứ lẫn hiện tại.
7 Thứ ba là có giá trị: dựa vào khả năng tổ chức nhóm làm tăng giá trị của việc tiếp thu kiến thức giúp đạt chiến lược năng lực cạnh tranh tuy nhiên do chỉ giới hạn trong hoạt động tổ chức nhóm nên không thể nhân rộng. Kiến thức cá nhân: là một trong những nguồn tài nguyên của tổ chức và được xây dựng từ chính cá nhân, cho nên dù là hiện hữu hay ấn đi, cũng có thé gia tang giá trị vào các hoạt động cho tổ chức nhóm. Quá trình chia sẻ kiến thức giữa các cá nhân không chỉ gia tăng kiến thức cho tổ chức mà còn cho chính các nhân đó. Cho nên nếu một các nhân không có khả năng tương tác với các nhóm làm việc khác nhau hay trong tổ chức thì không thê chia sẻ kiến thức (Ipe, 2003).
Chia sẻ kiến thức Chia sẻ kiến thức là một quá trình nơi các cá nhân cùng nhau trao đổi kiến thức của họ và cùng nhau tạo ra kiến thức mới, là truyền thống kiến thức qua lại trong một nhóm người. Mục đích cơ bản là sử dụng kiến thức sẵn có đê cải thiện hiệu suất làm việc của cá nhân, của nhóm cũng như của tổ chức (Alavi và Leidner, 1999). Ở đó, các cá nhân chia sẻ, chuyển giao những gì đã học đã biết với những người khác hình thành những kiên thức mới ở mức độ cao hơn, hoàn thiện hơn. Quá trình chia sẻ của mỗi cá nhân bao gồm thu thập, tô chức và chuyên giao kiến thức từ người này sang người khác (Van đen Hooff và De Ridder, 2004), kiến thức được phát triển khi nó được chia sẻ.
Do đó, nếu được quản lý tốt, việc chia sẻ kiến thức có thể cái thiện đáng kẻ chất lượng công việc, kỹ năng ra quyết định và hiệu qua giải quyết vẫn đề cũng như năng lực nói chung, tạo ra những lợi ích lớn cho tổ chức (Kim, 2008). Cơ chế của việc chia sẻ kiến thức trong hoạt động có tô chức bao gồm: Đóng góp kiến thức vào cơ sở đữ liệu của tổ chức: chia sẻ kiến thức trong quá trinh tương tác chính thức và không chính thức với các thành viên trong và ngoài đội/nhóm làm việc. Bởi vì hiệu quả của việc chia sẻ kiến thức trong một tổ chức không phải là quan hệ nhân quả đơn giản, mà là liên quan đến tương tác giữa các cá nhân và đơn vị tê chức. Các hiện tượng không thể được coI đơn giản như một tuyến tính hệ thống mà các cá nhân trong một tổ chức có thể yêu cầu và cung cấp các kiến thức khác nhau một cách tự phát.
Các cá nhân sẽ thực hiện các hành động và ấp dụng một số chiến lược để tối đa hóa giá trị của kiến thức. Tuy nhiên, có nhiều các yếu tố 8 cần được xác định đề thúc đây chia sẻ kiến thức. Tóm lại, những yếu tố này có thé được phân loại thành ba khía cạnh: tổ chức, cá nhân và trình độ kiến thức. Ngoài ra chia sẻ kiến thức cũng có thê nhìn thấy được (như giao tiếp bằng lời nói, tài liệu.) hoặc không nhìn thấy được (có thể xảy ra trong các hoạt động xã hội, sự quan sát hoặc các hoạt động tư van).
Cho nên nghiên cứu này giúp chỉ ra hành vi chia sẻ kiến thức dựa trên kinh nghiệm thu được trong quá trình hoạt động trong và ngoài tô chức. Nếu kiến thức có sẵn trong các thành viên, tô chức sẽ giảm thiếu tối đa các quyết định trùng lặp và giải quyết vấn đề sẽ nhanh hơn. Các hoạt động chia sẻ kiến thức giúp tái sử dụng kiến thức của từng cá nhân và nâng kiến thức lên một tầm cao mới. Ý nghĩa của chỉa sẻ kiến thức Một trong những mục tiêu chính của các sáng kiến quản lý kiến thức là cái thiện hoặc cho phép chia sẻ kiến thức hoặc chuyên giao giữa các đơn vị cho các tổ chức.
(2007) chỉ ra rằng kết quá của việc triển khai chia sẻ kiến thức chắc chắn ảnh hưởng đến việc học tập của tổ chức ở một mức độ nhất định.