Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề: 1. Các nghiên cứu ngoài nước Dạy học là vấn đề đã được nhiều nhà triết học, nhà nghiên cứu đồng thời là nhà giáo dục cả phương Đông và phương Tây đề cập. Có thể kể đến các nhà nghiên cứu và các tư tưởng về giáo dục sau đây: Ở phương Tây, nhà nghiên cứu Xôcrat (469- 339 TCN) đã quan niệm giáo dục phải giúp con người khẳng định chính mình.
Ông cho rằng để nâng cao hiệu quả dạy học cần có phương pháp giúp thế hệ trẻ tiếp cận tri thức, phải từng bước tự khẳng định, tự phát hiện tri thức mới mẻ, tư duy sáng tạo, phù hợp với quy luật của tự nhiên và xã hội. Campbell đã cho ra đời công trình đầu tiên nghiên cứu khá hoàn chỉnh các vấn đề QLGD dưới ánh sáng của các học thuyết quản lý chung, đặc biệt là thuyết hành vi (quan hệ con người) trong quản lý Platon (429- 347 TCN) cho rằng giáo dục có tính xã hội, giáo dục có vai trò hình thành và phát triển nhân cách con người. Giáo dục có ý nghĩa vô cùng quan trọng đến đời sống con người. Không thể không nhắc đến nhà giáo dục thực dụng chủ nghĩa nổi tiếng John Dewey (1859- 1952) của nước Mỹ với những công trình nghiên cứu giáo dục với nhiều tranh cãi.
Bên cạnh những quan điểm thực dụng về giáo dục của ông có nhiều đóng góp hình thành quan niệm về nhà trường và xã hội. Đầu những năm 90, UNESCO PROAP đã xuất bản cuốn sách có tính cẩm nang về kĩ năng QLGD mang tựa đề “Kế hoạch hóa và QLGD vi mô” Giáo dục thế giới trải qua ba cuộc cải cách, cuộc cải cách lần thứ nhất thời kỳ Phục hưng cho đến cao trào vào đầu thế kỷ 20 với công lao nhiều nhà triết học, nhà GD, cao trào là Ru Xô và Dewey: chuyển đổi giáo dục truyền thống, lấy chương trình học làm trung tâm, áp đặt, ép buộc sang giáo du hiện đại: giáo dục, nhà trường gắn với cuộc sống, chú trọng hoạt động của người học, hứng thú và niềm vui, lợi ích việc học. Cuộc cải cách lần thứ 2 diễn ra trong bối cảnh, xuất hiện hai hệ thống xã hội: Tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa; hậu quả chiến tranh thế giới lần thứ 2 và thay đổi ở các nước: Đức, Ý, Nhật; những thành tựu về khoa học của Liên Xô với vệ tinh nhân tạo năm 1957. Nội dung cải cách tập trung vào tiếp cận sự phát triển khoa học công nghệ, tăng thời lượng học các môn KHTN; tăng cường tính tích cực xã hội; chú ý tư duy hệ thống; Đào tạo nhân tài; Đầu tư nhiều cho giáo dục.
Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, nghiên cứu về QLGD, quản lí nhà trường, quản lí HĐDH đã được nhiều tác giả quan tâm. Các công trình nghiên cứu đều khẳng định vai trò quan trọng của công tác quản lí trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, quản lí HĐDH thực sự là vấn đề cấp thiết cần được nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. Đề tài về quản lí HĐDH ở trường đã được nhiều tác giả nghiên cứu trong các luận văn thạc sĩ như " Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học tại các trường THPT Thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay, của Đặng Thanh (2005)[12].
Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Đại học Đà Nẵng; “Những biện pháp quản lí HĐDH ở trường THPT ngoài công lập Hà Nội trong giai đoạn phát triển hiện nay” của Ngô Trường Đức[6]; “Một số biện pháp quản lí HĐDH ở trường THPT Nam Lương Sơn tỉnh Hoà Bình trong quá trình thực hiện đổi mới CTGDPT” của Nguyễn Duy Thịnh[14]. ; Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trường các trường THPT tỉnh Kon Tum, Luận văn thạc sỹ QLGD - Đại học SP Huế [13].… Song chưa có đề tài nào nghiên cứu về “Quản lý hoạt động dạy học môn khoa học tự nhiên tại các trường THCS quận Liên Chiểu Thành phố Đà Nẵng” Về tài liệu hướng dẫn giảng dạy, Nhà xuất bản Giáo dục đã phê duyệt, xuất bản bộ sách môn khoa học tự nhiên kết nối tri thức, chân trời sáng tạo và cánh diều. Tất cả các bộ sách này đều hướng dẫn thực hiện theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho các môn học cấp trung học cơ sở nhằm giúp giáo viên soạn giáo án, giảng dạy nhằm phát triển phẩm chất và năng lực người học. Tuy nhiên trong thực tiễn quản lí, ở từng bậc học, ở từng địa phương luôn nảy sinh những vấn đề riêng và mới.
Hơn nữa, khi triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới của môn môn khoa học tự nhiên, còn nhiều gặp khó khăn, thách thức. Trước yêu cầu cấp thiết trong công tác quản lý hoạt động dạy học, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động dạy học đặc biệt là môn khoa học tự nhiên cấp trung học, thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn khoa học tự nhiên của các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng. Từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động dạy học môn khoa học tự nhiên theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Luận văn này nghiên cứu “Quản lí hoạt động dạy học môn khoa học tự nhiên tại các trường THCS trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng” và đề xuất các biện pháp quản lí để hoạt động dạy học bám sát chương trình giáo dục phổ thông 2018 như đã quy định trong “Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ban hành chương trình giáo dục phổ thông”.
Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý Cho đến nay rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú.
Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau: Tác giả Trần Kiểm (1997) cho rằng: “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [Trần Kiểm (1997), Quản lý giáo dục và quản lý trường học, Viện Khoa học giáo dục, Hà Nội] [10]. Theo lý luận của chủ nghĩa Mác về quản lí: “Quản lí hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”. Theo Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm" [Frederich Winslow Tailor (1911) - Quản lý theo Khoa học] [8]. Theo tác giả Nguyễn Văn Bình, “Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác” [Nguyễn Văn Bình (1999), Khoa học tổ chức và quản lý - Một số lý luận về thực tiễn, NXB Thống kê, Hà Nội] [4].
Theo Đặng Quốc Bảo:“Bản chất hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm có sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp đổi mới hệ đưa hệ vào thế “phát triển”. Trong “quản” phải có “lý” trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động - hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)”. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [Nguyễn Ngọc Quang (1998), Nhà sư phạm, người góp phần đổi mới lý luận dạy học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội] [15]. Từ những khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có tính hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý trong một tổ chức, thông qua công cụ và phương pháp quản lý nhằm làm cho tổ chức đó thực hiện đúng tiến trình và mục tiêu đề ra.
Quản lý giáo dục Qua nghiên cứu lý luận và thực tế công tác quản lý nói chung thì quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành, người nghiên cứu trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung, cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã có những quan niệm như sau: Tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối nguyên lý của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến bộ trạng thái về chất” [Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục, NXB giáo dục, Hà Nội] [7].