Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT 10 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đề tài 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu về năng lực nói chung, NLGT&HT đã có nhiều tác giả nước ngoài bàn luận đến. Trong đó, có thể kể đến các công trình sau đây: Trong bài viết “Science communication: a contemporary definition” [51] của nhóm tác giả Burns, T.M đã khẳng định: Giao tiếp là một quá trình trong đó các bên tham gia tạo ra hoặc chia sẻ thông tin, cảm xúc với nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp [51, tr 184].
Đồng thời các tác giả cũng đưa những bàn luận về tầm quan trọng của việc phát triển khả giao tiếp cho nghề nghiệp mỗi người. Trong công trình “Development of a Measure of Interpersonal Communication Competence”, tác giả Martin, M. chỉ ra rằng: NL giao tiếp được đánh giá thông qua tính phù hợp và tính hiệu quả [57]. Tác giả Spitzberg, B.
với công trình “Communication competence as knowledge, skill, and impression”, khẳng định: quá trình xây dựng NL giao tiếp cho HS có thể thông qua 3 giai đoạn: Biết về NL giao tiếp, muốn phát triển NL giao tiếp và thể hiện NL giao tiếp [59]. Qua đó cho thấy, các tác giả đều đã đưa ra được khái quát biểu hiện của NL giao tiếp. Tuy nhiên, chưa có định nghĩa cụ thể về NL giao tiếp được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu này. Bàn về NL hợp tác giả “Gilbert, D.
với bài viết “Collaborative Competence: Redefining Management Education Through Social Construction” khẳng định: “NL hợp tác được thiết kế dựa trên các nguyên tắc xây dựng xã hội” [53], tác giả “Borge M. với công trình: Toward the Development of Socio-Metacognitive Expertise: An Approach to Developing Collaborative Competence” khẳng định: “đánh giá qua khả năng hợp tác trong các quá trình 5 khác nhau để GQVĐ cụ thể”. Để xây dựng các hoạt động DH theo nhóm, hình thành và phát triển NL hợp tác của HS tác giả Borge và White đã đề xuất 4 vai trò mà HS có thể đảm nhận trong các hoạt động làm việc nhóm: Quản lí cộng tác (hay lập kế hoạch chung); Quản lí thông tin/giao tiếp (tổng hợp thông tin tập thể); Quản lí hòa giải (thương lượng kiến thức tập thể); Quản lí năng suất (năng suất tập thể) [52, tr. Nhìn chung, các tác giả đều chỉ ra được các biểu hiện của NL hợp tác, khẳng định dạy học theo nhóm sẽ là phương pháp giúp hình thành NL này một cách hiệu quả.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đây của các tác giả nước ngoài đã tiếp cận quan niệm về NL, NLGT&HT, việc phát triển các NL này trong giáo dục ở các bình diện khác nhau. Đây sẽ là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả luận văn kế thừa trong quá trình thực hiện đề tài của mình. Các công trình nghiên cứu trong nước Nghiên cứu về NLGT&HT cũng được nhiều tác giả trong nước bàn luận, cụ thế như: Bồi dưỡng NL GT & HT cho HS thông qua tổ chức hoạt động nhóm khi DH hàm số bậc nhất và hàm số bậc hai ở lớp 10” [40]; “Thiết kế hoạt động trải nghiệm thiên nhiên phát triển NL GT & HT cho HS THCS” [21]; “Thiết kế công cụ đánh giá NLGT&HT của HS khối ngành sư phạm trong DH dự án ở trường Đại học Tây Nguyên” [38], “Xây dựng tiêu chí đánh giá NL GT & HT ở trẻ mẫu giáo theo định hướng của CT GDPT tổng thể năm 2018” [22], luận văn “Quản lí giáo dục NL GT & HT cho HS ở các trường THCS huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên” [20]. Các nghiên cứu này đã nêu ra được khái niệm về NL GT&HT, các biểu hiện của NL trong dạy học các môn học cụ thể, các tiêu chí để đánh NL GT&HT của HS ở các môn học khác nhau.
Tuy nhiên, chưa có nội dung nào của các tác giả bàn về phát triển NLGT&HT trong dạy học môn GDKT&PL 10 ở các trường THPT huyện Bắc Sơn. Các công trình trực tiếp nghiên cứu về NLGT&HT như: Tác giả Nguyễn Chiến Thắng với bài viết “Bồi dưỡng NL GT & HT cho HS thông qua tổ chức 6 hoạt động nhóm khi DH hàm số bậc nhất và hàm số bậc hai ở lớp 10” [40] đã “tìm hiểu và đề xuất các định hướng cơ bản để bồi dưỡng NLGT&HT trong DH toán nói chung, DH hàm số bậc nhất và hàm số bậc hai ở lớp 10 nói riêng theo một khía cạnh là tổ chức hoạt động nhóm giúp HS tăng cường giao tiếp với nhau để hợp tác cùng giải quyết nhiệm vụ được giao”. Nhóm tác giả Trần Thị Gái, Kiều Thị Kính, Ngô Thị Hoàn Vân với bài viết “Thiết kế hoạt động trải nghiệm thiên nhiên phát triển NL GT & HT cho HS THCS”[21] đã trình bày về “khái niệm, cấu trúc NLGT&HT; mối quan hệ giữa NLGT&HT với hoạt động trải nghiệm thiên nhiên. Trên cơ sở đó lấy ví dụ minh họa cho việc tổ chức hoạt động trải nghiệm thiên nhiên trong DH chủ đề “Du lịch xanh, lớp 9”.
Trong công trình“Thiết kế công cụ đánh giá NLGT&HT của HS khối ngành sư phạm trong DH dự án ở trường Đại học Tây Nguyên” [38] tác giả Bùi Thị Tâm căn cứ vào “đặc điểm, quy trình tổ chức của PP DH dự án, căn cứ vào đặc điểm của đối tượng HS khối ngành sư phạm của trường Đại học Tây Nguyên bài viết đã thiết kế 01 Rubic và 01 bảng hỏi để đánh giá NL GT & HT của HS với các tiêu chí rõ ràng, cụ thể. Với hai công cụ này sẽ giúp giảng viên công khai phương án đánh giá cho HS, cho cơ sở giáo dục có phương án bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ GV trong tương lai”. Tác giả Trương Tuyết Hạnh với bài viết “Xây dựng tiêu chí đánh giá NL GT & HT ở trẻ mẫu giáo theo định hướng của CT GDPT tổng thể năm 2018” [22] đã “đề xuất bộ tiêu chí đánh giá NLGT&HT ở trẻ mẫu giáo gồm có 8 tiêu chí và 13 chỉ báo. Cơ sở lí luận của việc đề xuất này là tiêu chí của kĩ năng GT&HT ở trẻ mẫu giáo theo Chương trình giáo dục mầm non hiện hành và tiêu chí của NLGT&HT ở trẻ tiểu học theo CT GDPT 2018”.
Luận văn “Quản lí giáo dục NL GT & HT cho HS ở các trường THCS huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên” [20] nghiên cứu làm rõ hơn “cơ sở lý luận của DH theo chủ đề nhằm phát triển năng GT & HT, vai trò của DH theo chủ đề nhằm 7 phát triển NL GT & HT trong DH Vật lý tại trường THPT. Luận văn đã thiết kế tiến trình DH một số kiến thức chủ đề “Chất khí” Vật lí 10 nhằm phát triển NL GT & HT của HS. Tiến hành GQVĐ sư phạm để kiểm tra giả thuyết khoa học và tính khả thi của các tiến trình DH đã thiết kế”. Tuy nhiên, tất cả các công trình trên đây mặc dù đã nêu ra được khái niệm, đặc điểm và xây dựng được bộ công cụ đánh giá NLGT&HT nhưng đều gắn với các chuyên ngành, cấp học, môn học đặc thù.
Vấn đề phát triển NLGT&HT cho HS THPT trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn trong DH môn GD KT & PL 10 chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu. Các nội dung đã nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước sẽ là những cơ sở lý luận quan trọng để tác giả luận văn thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ mà đề tài nêu ra. Cơ sở lý luận của việc phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 10 1. Khái niệm và cấu trúc của năng lực * Khái niệm NL Khái niệm NL có nguồn gốc tiếng La tinh “Competentia”, được hiểu là “sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với công việc”.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt “NL là phẩm chất có thể làm việc” [49, tr.1172], “NL là những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm việc” hoặc là “khả năng đủ để làm tốt một công việc” [49, tr. Từ điển Tiếng Việt, NL được hiểu là “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [47, tr. Trong CT GDPT 2018 được nêu rõ rằng NL là một đặc điểm cá nhân mà người ta phát triển và hình thành thông qua sự kết hợp của tố chất bẩm sinh và quá trình học tập, rèn luyện.
NL cho phép con người sử dụng một cách tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin và 8 ý chí để thực hiện thành công một loại hoạt động cụ thể và đạt được kết quả mong muốn dưới những điều kiện cụ thể. Theo quan điểm của “John Erpenbeck: NL được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua ý chí” [trích dẫn theo nguồn 5, tr. Theo Weinert, “NL là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết VĐ một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [trích dẫn theo nguồn 5, tr. Trong quan niệm của tác giả Trần Thị Huế và Nguyễn Đức Dũng, NL bao gồm “các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà cá nhân huy động để thành công trong việc giải quyết các vấn đề được đặt ra trong các tình huống thay đổi” [23, tr.
Tiếp cận ở khía cạnh tâm lý học, “theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn quan niệm: NL là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm” [43, tr. Như vậy, chúng ta có thể hiểu định nghĩa NL như sau: NL là khả năng tổng hợp tri thức, kỹ năng, và kinh nghiệm với thái độ tích cực của cá nhân hoặc tổ chức, nhằm đạt hiệu quả trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình nhận thức và thực tế.