phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề chuẩn bị NLNN qua dạy học các học phần PPDH Toán Chƣơng 2: Biện pháp chuẩn bị NLNN cho SVGDTH qua dạy học các học phần PPDH Toán Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ CHUẨN BỊ NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP QUA DẠY HỌC CÁC HỌC PHẦN PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Xã hội phát triển nhanh chóng đòi hỏi con ngƣời phải có NL tiếp cận đƣợc để giải quyết các vấn đề về thông tin, khoa học kỹ thuật cũng nhƣ tri thức của xã hội, trong đó giáo dục đóng vai trò nồng cốt thực hiện nhiệm vụ này. Giáo dục cần có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ tiếp cận nội dung kiến thức sang tiếp cận NL ngƣời học. SV hoàn thành chƣơng trình học nghề, SV làm chủ đƣợc hệ thống các kiến thức, kĩ năng để đủ khả năng giải quyết các vấn đề về chuyên môn, cũng nhƣ các vấn đề khác trong đời sống xã hội.
Hiện nay vấn đề dạy học tiếp cận NLNN của SV trong quá trình đào tạo ở các trƣờng sƣ phạm đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc quan tâm. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Từ năm 1936 đến năm 1941, trong nền Tâm lý học của thời kì Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề NL, có thể điểm qua một số công trình nổi tiếng của các tác giả nhƣ: NL toán học của V. Miaxisốp, NL văn học của A. Iaguncôva, … những công trình này đã đƣa ra những định hƣớng cơ bản cả về lí luận và thực tiễn cho các nghiên cứu sau này của Tâm lí học trong những nghiên cứu về NL.
Các tác giả quan niệm rằng “NL được hiểu là những đặc điểm tâm lí cá nhân đáp ứng những yêu cầu của HĐ học tập”, các tác giả cũng cho rằng “NL không chỉ là bẩm sinh, mà phát triển trong đời sống, trong HĐ” [57, tr 9]. Đồng thời các tác giả thống nhất cho rằng NL của ngƣời GV là rất quan trọng trong quá trình hình thành kiến thức và NL cho trẻ, “tất cả trẻ em đều có khả năng học tập: mỗi HS khỏe mạnh, bình thường về mặt tâm lý, không có tật bệnh gì, đều có khả năng tiếp thu một nền học vấn trung học, có khả năng nắm được tất cả các môn theo yêu cầu chương trình trung học, và GV phải làm sao cho tất cả HS tiếp thu tốt chương trình đó”. [57, tr 10] Đến những năm 60 của thế kỉ XX, ở Liên Xô và các nƣớc Đông Âu đã có các công trình nghiên cứu về lĩnh vực phát triển NL dạy học cho GV trên cơ sở lí luận đã có và kinh nghiệm thực tiễn vững chắc, trong đó phải kể đến công trình của N. Cudơminna (1961), với “Hình thành các NL sư phạm” đã xác định đƣợc các NL sƣ phạm cần có của ngƣời GV, mối quan hệ giữa NL chuyên môn và NL nghiệp vụ, giữa năng khiếu sƣ phạm và bồi dƣỡng năng khiếu sƣ phạm thành NL sƣ phạm.[24] Những năm sau đó, nhiều nghiên cứu về tổ chức lao động khoa học và tối ƣu hóa quá trình dạy học đã đƣợc tiến hành.
Trong đó công trình nghiên cứu “Hình thành các kĩ năng và kỹ xảo sư phạm cho SV trong điều kiện của nền giáo dục đại học” của X. Kixegof (1977) và các cộng sự đã xác định đƣợc hơn 100 kĩ năng giảng dạy, trong đó có hơn 50 kĩ năng cần thiết để thiết kế bài giảng nhằm phát triển NL ngƣời học. Công trình này, cũng đã nghiên cứu hình thành các kĩ năng sƣ phạm của SV dƣới gốc độ là một quá trình có tổ chức trong nhà trƣờng sƣ phạm.[56] Michel Develay (1994), công trình nghiên cứu về đào tạo GV, đã bắt đầu từ lý luận về học đến lý luận về dạy trong nghiên cứu đào tạo GV. Ông cho rằng, “Đào tạo GV mà không làm cho họ có trình độ cao về NL tương ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, định lý, hệ biến hóa các môn học đó, mà còn cả với khoa học luận của chúng thì không thể được”.
[30, tr 89] Sang thập kỉ 70 của thế kỉ 20, trong phong trào giáo dục và đào tạo nghề ở Mỹ dựa vào cách tiếp cận NL đƣợc hình thành và phát triển, cách tiếp cận về NL đã phát triển mạnh mẽ trên một nấc thang mới trong những năm 1990 với hàng loạt các tổ chức có tầm cỡ quốc gia ở Mỹ, Anh, Úc, New Zealand, xứ Wales, v. [115] Với xu hƣớng tiếp cận về NL, K. E Paprock (1996) đƣa ra các đặc tính cơ bản: Tiếp cận NL dựa trên lý thuyết lấy ngƣời học làm trung tâm; Tiếp cận NL đáp ứng đòi hỏi các HĐ nghề nghiệp; Tiếp cận NL là định hƣớng cuộc sống thực, HĐ nghề nghiệp; Tiếp cận NL là rất năng động và linh hoạt; Tiếp cận NL đƣợc hình thành ở ngƣời học một cách rõ ràng các NL là nội dung tiêu chuẩn nghề nghiệp.[122] Tại Hội nghị Ủy ban nghiên cứu quốc gia về giáo dục và tƣơng lai Hoa kì đã có báo cáo các kết quả nghiên cứu về GV phổ thông, nội dung các kết quả nghiên cứu đƣợc chia thành bốn hƣớng chính, tập trung nghiên cứu các mô hình và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nghề nghiệp của GV, trong đó có hƣớng nghiên cứu các HĐ hỗ trợ thực tiễn phát triển nghề nghiệp của GV. Các xu hƣớng này đƣợc các quốc gia trong khối APEC triển khai thực hiện đào tạo và bồi dƣỡng GV.
Cũng theo hƣớng này, các quốc gia ở Châu Á - Thái Bình Dƣơng xem đây là một trong những khâu then chốt trong công tác đào tạo và bồi dƣỡng GV.[20] 8 Vào những năm đầu của thế kỉ 21, trên thế giới có các công trình nghiên cứu về đào tạo GV theo hƣớng phát triển NLNN, trong đó phải kể đến các công trình của Justine Rutherford (2005), trong nghiên cứu phát triển chƣơng trình đào tạo GV ở New Zealand, tác giả đã đƣa ra các khái niệm và các yếu tố cơ bản của các NL chính trong chƣơng trình đào tạo, đồng thời tác giả cho rằng các NL này góp phần định hƣớng cho việc dạy, học, nhận thức luận và phƣơng pháp sƣ phạm, tác động trực tiếp vào sự thay đổi quá trình giáo dục. [127, tr 224] Kiymet Selvi (2010), đã xác định các NL chung cần hình thành của GV gồm 9 NL: NL chuyên môn hóa, NL nghiên cứu khoa học, NL chƣơng trình (phát triển và thực hiện chƣơng trình), NL học suốt đời, NL văn hóa - xã hội, NL tình cảm, NL giao tiếp, NL công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) và NL môi trƣờng. Kiymet Selvi cho rằng, các NL này của GV ảnh hƣởng đến giá trị, hành vi, sự giao tiếp, mục tiêu và các HĐ khác trong nhà trƣờng.[130] Ratu Ilma (2010), nghiên cứu phát triển nghề dạy toán cho GVTH ở Indonesia qua nghiên cứu bài học và tiếp cận thực tiễn giáo dục toán học, công trình đã nêu quy trình nghiên cứu bài học qua các bƣớc: lập KHBH, thực hiện, khảo sát, phân tích dữ liệu và phản ánh. Mặc khác, bài viết cũng phân tích rõ đƣợc vai trò nghiên cứu bài học trong việc phát triển NL dạy học.
Với cách này học đã đào tạo đƣợc trên 30 GVTH ở Palembang, Indonesia. (2012) cũng cho rằng, ở Nhật Bản nghiên cứu bài học là hình thức nghiên cứu để phát triển NLNN cho tất cả GV bậc Tiểu học và Trung học cơ sở. Các công trình nghiên cứu này tập trung nghiên cứu chủ yếu về phát triển NLNN trên đối tƣợng đang là GV giảng dạy tại các trƣờng Tiểu học. Tình hình nghiên cứu trong nước Giáo dục Đại học Việt Nam đã có lịch sử phát triển lâu dài, có những thay đổi gắn liền với các giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc.
Vào những năm 80 của thế kỉ 19, những HĐ đóng góp về tƣ tƣởng, học thuật không đƣợc chú ý tới. Đến giai đoạn 1945 - 1954, trong Sắc lệnh số 146/SL ngày 10 tháng 8 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “xây dựng nền giáo dục mới với 3 nguyên tắc cơ bản Đại chúng - Dân tộc - Khoa học”, đã mở ra một trang sử mới trong quá trình phát triển nền giáo dục Việt Nam thời hiện đại, một nền giáo dục chú trọng đào tạo đội ngũ tri thức, cán bộ khoa học có trình độ cao. [32] 9 Vào những năm 80 của thế kỉ XX đã đƣợc một số tác giả đề cập đến nghề sƣ phạm của GV trong giáo Giáo dục học nhƣ: vai trò của ngƣời GV trong quá trình dạy học, nguyên tắc dạy học, nội dung, phƣơng pháp và hình thức tổ chức dạy học. Năm 1987, Nguyễn Quang Uẩn, đề cập đến vấn đề RLNVSPTX cho SV sƣ phạm nhằm vạch ra phƣơng hƣớng có tính chất lý luận chung cho HĐ rèn luyện nghề trong nhà trƣờng sƣ phạm, đồng thời xem đây là một trong những HĐ chủ yếu trong quá trình rèn luyện nghề dạy học cho SV.
[93] Từ những năm 90, các công trình nghiên cứu về nghiệp vụ sƣ phạm đƣợc công bố, về hình thành kĩ năng sƣ phạm phải kể đến các tác giả nhƣ: Nguyễn Hữu Dũng (1995), với đề tài “Hình thành kĩ năng sư phạm cho giáo sinh sư phạm” đã cung cấp một số cơ sở lý luận khoa học về kĩ năng sƣ phạm và vai trò của việc hình thành nó trong quá trình đào tạo; về xây dựng quy trình RLNVSPTX có Trần Anh Tuấn (1996), với “Xây dựng quy trình tập luyện các kĩ năng giảng dạy cơ bản trong các hình thức thực hành, thực tập sư phạm”, từ thực trạng tác giả đã chỉ ra điều kiện đƣợc và chƣa đƣợc của HĐ thực hành nghề ở các trƣờng sƣ phạm, từ đó đƣa ra một số quy trình tập luyện các kĩ năng dạy học cơ bản qua HĐ thực hành nghề trong quá trình đào tạo. Năm 1997, Nguyễn Đình Chỉnh với “Vấn đề thực tập sư phạm” đã chỉ rõ những hạn chế cũng nhƣ những giải pháp nhằm tác động trong công tác thực tập sƣ phạm của SV. Các kết quả nghiên cứu này nhằm trang bị cho SV những cơ sở lý luận và các kĩ năng nghiệp vụ cơ bản của ngƣời GV.