Luận văn thạc sĩ: Dạy học tích hợp hình học với khoa học tự nhiên ở tiểu học - Trần Thị Mai Hoa, ĐH Sư phạm TP. HCM

Khám phá phương pháp dạy học tích hợp hình học và khoa học tự nhiên cho học sinh tiểu học. Hướng dẫn chi tiết giúp giáo viên xây dựng những bài giảng hiệu quả

Chuyên ngành

Giáo dục Tiểu học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

152
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan dạy học tích hợp hình học và khoa học tự nhiên ở tiểu học

Dạy học tích hợp hình học và khoa học tự nhiên ở tiểu học là phương pháp giáo dục liên kết nhiều lĩnh vực kiến thức trong cùng một bài học. Cách tiếp cận này giúp học sinh xây dựng mối liên hệ giữa hình học trừu tượng và các hiện tượng tự nhiên cụ thể. Giáo viên không dạy riêng biệt từng môn mà tổ chức hoạt động học tập liên môn. Học sinh quan sát hình học từ thế giới thực, rút ra tri thức Toán học cần thiết. Phương pháp này phù hợp với đặc điểm tư duy trực quan cụ thể của trẻ tiểu học. Nghiên cứu của Trần Thị Mai Hoa tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng tích hợp hình học với khoa học tự nhiên giúp tăng hứng thú học tập. Nội dung tích hợp bao gồm hình dạng, kích thước, vị trí không gian trong tự nhiên. Giáo viên sử dụng đối tượng tự nhiên như phương tiện dạy hình học. Cách làm này thu hút sự tập trung và quan sát của trẻ. Dạy học tích hợp cũng phát triển năng lực giải quyết vấn đề và tư duy sáng tạo cho học sinh tiểu học.

1.1. Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp

Tích hợp trong giáo dục là quá trình kết hợp các lĩnh vực tri thức khác nhau thành một chỉnh thể thống nhất. Dạy học tích hợp không đơn giản là ghép nối nội dung nhiều môn học. Đây là phương pháp tổ chức hoạt động học tập nhằm đạt nhiều mục tiêu giáo dục cùng lúc. Theo nhiều nghiên cứu, dạy học tích hợp có ba mức độ cơ bản: tích hợp trong một môn học, tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn. Ở tiểu học, tích hợp liên môn được áp dụng phổ biến nhất. Giáo viên xây dựng bài học dựa trên mối liên hệ tự nhiên giữa các môn học. Cách tiếp cận này giúp học sinh nhận thức thế giới một cách toàn diện và sâu sắc hơn.

1.2. Cơ sở khoa học của dạy học tích hợp hình học và khoa học

Dạy học tích hợp hình học và khoa học tự nhiên có cơ sở khoa học vững chắc. Về mặt giáo dục học, kiến thức không tồn tại rời rạc mà liên hệ mật thiết với nhau. Hình học xuất hiện ở khắp nơi trong tự nhiên: tổ ong hình lục giác, bông tuyết hình lục giác đối xứng, cấu trúc tinh thể khoáng sản. Tâm lý học giáo dục cho thấy trẻ em học tốt nhất khi kiến thức gắn liền với thực tế. Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học còn mang tính trực quan cụ thể. Trí nhớ hình tượng hoặc sự vật trong đời sống thực có hiệu quả cao nhất. Sử dụng đối tượng tự nhiên dạy hình học phù hợp với đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ.

II. Phân tích thực trạng và thách thức dạy học tích hợp hình học

Thực trạng dạy học tích hợp hình học và khoa học tự nhiên ở tiểu học hiện nay tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Nhiều giáo viên vẫn dạy riêng biệt từng môn học theo cách truyền thống. Kiến thức hình học được trình bày dưới dạng trừu tượng, tách rời khỏi thực tế tự nhiên. Chương trình giáo dục đã đề cập đến tích hợp liên môn nhưng việc thực hiện còn hạn chế. Giáo viên thiếu tài liệu hướng dẫn cụ thể về cách tích hợp hình học với khoa học tự nhiên. Phương pháp giảng dạy chủ yếu vẫn nặng về thuyết giảng, thiếu hoạt động thực hành trải nghiệm. Học sinh thụ động tiếp nhận kiến thức thay vì chủ động khám phá. Sự liên kết giữa hình học và khoa học tự nhiên chưa được khai thác hiệu quả trong nhà trường. Đánh giá kết quả học tập cũng chưa phù hợp với phương pháp tích hợp liên môn. Giáo viên cần được đào tạo thêm về kỹ năng thiết kế bài học tích hợp sáng tạo. Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học còn thiếu thốn tại nhiều trường tiểu học. Những thách thức này đòi hỏi giải pháp đồng bộ từ nhiều phía.

2.1. Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học trong học tập tích hợp

Học sinh tiểu học có những đặc điểm tâm lý riêng biệt ảnh hưởng trực tiếp đến việc học tích hợp. Tri giác của trẻ mang tính cảm tính, dễ bị thu hút bởi kích thích mạnh từ môi trường. Chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định ở lứa tuổi này. Trí nhớ và tư duy còn mang tính trực quan cụ thể, cần dựa vào vật thật và hình ảnh. Việc ghi nhớ tài liệu hình tượng hoặc sự vật trong đời sống thực có hiệu quả cao nhất. Năng lực trừu tượng hóa và khái quát hóa đang phát triển mạnh nhưng chưa đầy đủ. Học sinh dựa vào vật cụ thể và tài liệu trực quan để tư duy. Giáo viên cần tận dụng đặc điểm này khi thiết kế bài học tích hợp hình học và khoa học.

2.2. Vấn đề và thách thức trong dạy học tích hợp hình học và khoa học

Việc triển khai dạy học tích hợp hình học và khoa học tự nhiên đối mặt nhiều thách thức lớn. Thứ nhất, giáo viên thiếu kiến thức liên môn. Nhiều thầy cô giỏi Toán nhưng yếu Khoa học tự nhiên và ngược lại. Thứ hai, thời gian giảng dạy bị giới hạn theo chương trình chuẩn hiện hành. Giáo viên khó cân đối thời lượng giữa nội dung hình học và khoa học trong một tiết học. Thứ ba, hệ thống đánh giá chưa hỗ trợ phương pháp tích hợp liên môn. Bài kiểm tra vẫn đánh giá riêng từng môn theo cách truyền thống. Thứ tư, tài liệu dạy học tích hợp còn nghèo nàn và thiếu hướng dẫn chi tiết. Thứ năm, nhận thức của phụ huynh về dạy học tích hợp còn nhiều hạn chế.

III. Giải pháp và phương pháp dạy học tích hợp hình học với khoa học

Nhiều phương pháp dạy học tích hợp hình học và khoa học tự nhiên đã được nghiên cứu áp dụng thành công. Phương pháp quan sát trực tiếp cho phép học sinh khám phá hình học từ đối tượng tự nhiên có sẵn. Giáo viên tổ chức hoạt động ngoài trời để tìm kiếm hình học trong thiên nhiên xung quanh. Phương pháp thí nghiệm khoa học kết hợp đo lường hình học giúp học sinh hiểu sâu cả hai lĩnh vực. Dạy học theo dự án là phương pháp hiệu quả nhất cho tích hợp liên môn ở tiểu học. Học sinh giải quyết bài tập tình huống có thật trong đời sống hàng ngày. Sản phẩm học tập cụ thể thể hiện sự kết nối giữa hình học và khoa học tự nhiên. Phương pháp thảo luận nhóm khuyến khích học sinh chia sẻ quan sát và phát hiện cá nhân. Sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ trực quan hóa hình học trong tự nhiên hiệu quả hơn. Giáo dục STEM cũng là hướng tiếp cận tích hợp được nhiều quốc gia áp dụng rộng rãi. Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng, cần linh hoạt sử dụng tùy đối tượng học sinh.

3.1. Phương thức dạy học tích hợp Toán học và Khoa học tự nhiên

Có nhiều phương thức dạy học tích hợp Toán học và Khoa học tự nhiên được áp dụng rộng rãi. Phương thức tích hợp theo chủ đề xây dựng bài học xoay quanh một chủ đề chung gắn liền đời sống. Chủ đề có thể là môi trường, sức khỏe hoặc các hiện tượng thiên nhiên quen thuộc. Phương thức tích hợp theo dự án yêu cầu học sinh thực hiện dự án liên môn thực tế. Học sinh thu thập dữ liệu khoa học, xử lý số liệu toán học và trình bày kết quả. Phương thức tích hợp theo vấn đề đặt ra câu hỏi thực tế cần giải quyết ngay. Ví dụ: tính diện tích cánh đồng, đo lượng mưa, phân tích hình dạng tinh thể trong tự nhiên. Mỗi phương thức đều phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập.

3.2. Ứng dụng dạy học dự án trong tích hợp hình học và khoa học tự nhiên

Dạy học dự án là phương pháp tích hợp hiệu quả nhất cho hình học và khoa học tự nhiên. Học sinh tiếp thu kiến thức qua việc giải quyết bài tập tình huống có thật trong đời sống. Quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành. Giáo viên đóng vai trò huấn luyện viên, hướng dẫn học sinh sử dụng nhiều tài nguyên học tập khác nhau. Học tập theo dự án gồm các bước: xác định vấn đề, lập kế hoạch, thu thập thông tin, phân tích dữ liệu, đề xuất giải pháp, thực hiện, đánh giá và trình bày kết quả. Dự án giúp học sinh phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề hiệu quả và sáng tạo. Học sinh xây dựng cơ sở tri thức rộng, linh hoạt và thúc đẩy động lực học tập tự nhiên.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của dạy học tích hợp hình học tiểu học

Dạy học tích hợp hình học và khoa học tự nhiên ở tiểu học mang lại nhiều lợi ích giáo dục thiết thực. Phương pháp này giúp học sinh hiểu kiến thức một cách toàn diện và liên hệ chặt chẽ với thực tế đời sống. Nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của tích hợp trong việc tăng hứng thú học tập đáng kể. Học sinh phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề và kỹ năng hợp tác nhóm hiệu quả. Giáo viên cần được đào tạo bài bản về thiết kế bài học tích hợp liên môn chất lượng cao. Chương trình giáo dục cần có hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn về tích hợp liên môn trong nhà trường. Cơ sở vật chất trường học cần được cải thiện để hỗ trợ dạy học tích hợp đạt hiệu quả tốt nhất. Phụ huynh và xã hội cần hiểu rõ hơn về giá trị của phương pháp giáo dục tích hợp hiện đại. Dạy học tích hợp là xu hướng giáo dục tiến bộ, phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản giáo dục. Ứng dụng thực tiễn cần được mở rộng và nhân rộng trong toàn bộ hệ thống giáo dục tiểu học Việt Nam.

4.1. Ý nghĩa dạy học tích hợp đối với giáo dục tiểu học

Dạy học tích hợp có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển giáo dục tiểu học hiện đại. Phương pháp này phá vỡ ranh giới cứng nhắc giữa các môn học truyền thống trong nhà trường. Học sinh nhận thức thế giới xung quanh một cách tự nhiên và toàn diện hơn. Kiến thức trở nên có ý nghĩa sâu sắc hơn khi gắn liền với thực tế đời sống hàng ngày. Học sinh không còn học thuộc máy móc mà hiểu bản chất vấn đề một cách sâu sắc. Tích hợp phát triển nhiều năng lực cùng lúc: tư duy logic, khả năng quan sát, sáng tạo và hợp tác. Phương pháp này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi tiểu học. Trẻ em tiểu học không phân biệt ranh giới giữa các môn học một cách tự nhiên.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng trong thực tế giảng dạy

Ứng dụng dạy học tích hợp hình học và khoa học tự nhiên cần được mở rộng trong thực tế giảng dạy. Giáo viên nên bắt đầu từ những bài học đơn giản, tích hợp nội dung cơ bản trước tiên. Tài liệu hướng dẫn cần được biên soạn chi tiết, có minh họa cụ thể cho từng bài học. Chương trình đào tạo giáo viên cần bổ sung kiến thức và kỹ năng về dạy học tích hợp liên môn. Các trường sư phạm nên đưa dạy học tích hợp vào chương trình đào tạo chính thức. Đánh giá kết quả học tập cần thay đổi theo hướng đánh giá năng lực toàn diện. Giáo dục STEM là hướng phát triển phù hợp nhất cho tích hợp liên môn trong tương lai. Công nghệ thông tin hỗ trợ hiệu quả cho việc thiết kế và tổ chức dạy học tích hợp hiện đại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận văn thạc sĩ dạy học tích hợp hình học và khoa học tự nhiên ở tiểu học

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, chuẩn bị cho các cấp học trên mà còn là kết thúc, chuẩn bị cho đời sống trưởng thành của học sinh [81]. Năm 2011, trong tài liệu tập huấn dạy học tích hợp các nội dung sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, giáo dục môi trường vào nội dung các môn học trong chương trình các cấp, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng "tích hợp là lồng ghép các kiến thức vào trong bài học có sẵn. Cách hiểu này chưa thực sự thấu đáo, theo đó, dạy học tích hợp chỉ là sự sắp đặt các kiến thức liền kề nhau một cách rời rạc mà chưa cho thấy được sự hòa nhập thành một thể thống nhất giữa các thành phần. Năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo định nghĩa "Dạy học tích hợp là một quan điểm lí luận dạy học, hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học" [6].

Khái niệm đã được phát triển so với trước đó, nhưng trong định nghĩa của Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn xem "dạy học tích hợp" là "hành động liên kết" và chỉ giới hạn trong phạm vi "một kế hoạch bài học". Điều này có thể làm cho người đọc hiểu rằng "dạy học tích hợp" chỉ mang tính riêng lẻ, thiếu hệ thống, không liên tục. Xem xét định nghĩa của một số tác giả khác, chúng tôi nhận thấy sự tương đồng của các tác giả là xem dạy học tích hợp là một quan điểm/ quan niệm dạy học chứ không đơn thuần là một hoạt động dạy học. Chẳng hạn, "dạy học tích hợp là một quan điểm sư phạm, ở đó người học cần huy động mọi nguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp, có vấn đề nhằm phát triển các năng lực và phẩm chất cá nhân" [34] hay "dạy học tích hợp là một quan niệm dạy học nhằm hình thành ở học sinh những 12 năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau" [10].

Nghĩa là, dạy học tích hợp bao trùm lên toàn bộ quá trình dạy học, được thể hiện từ mục tiêu hình thành cho người học năng lực giải quyết vấn đề bằng việc huy động kiến thức liên ngành đến việc chi phối chương trình tích hợp, phương pháp dạy học và hình thức tổ chức gắn với các tình huống trong đời sống thực, cùng phương pháp kiểm tra dựa trên đánh giá năng lực, phẩm chất cá nhân. Dạy học tích hợp giúp người học thấy được ý nghĩa của kiến thức cần học, tích lũy được năng lực cần thiết phục vụ cho việc học tập ở những giai đoạn, những bậc học tiếp theo hay phục vụ cho lao động. Nếu người học chẳng may rời khỏi ghế nhà trường ngoài ý muốn thì cũng không thấy sự cách biệt quá lớn giữa kiến thức và thực tế đời sống. Trong phạm vi luận văn, chúng tôi chú trọng đến quan điểm dạy học tích hợp theo chương trình Việt Nam hiện hành.

Các mức độ trong dạy học tích hợp Cách phân chia các mức độ trong dạy học tích hợp phụ thuộc vào quan điểm về dạy học tích hợp. Điển hình, việc thay đổi quan niệm về dạy học tích hợp đã dẫn đến thay đổi cách phân chia các mức độ trong dạy học tích hợp của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Năm 2011, dạy học tích hợp được chia theo 3 mức độ tích hợp là: [3] - Tích hợp toàn phần: mục tiêu và nội dung của bài học phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung giáo dục cần tích hợp. - Tích hợp bộ phận: chỉ có một phần bài học có nội dung phù hợp với phần cần tích hợp, được thể hiện bằng một mục riêng, một câu, đoạn trong bài học.

- Tích hợp liên hệ: các kiến thức giáo dục cần tích hợp không được nêu rõ trong sách giáo khoa nhưng có điều kiện thì liên hệ một cách logic. Với cách hiểu tích hợp là sự liên hệ, lồng ghép khi thấy phù hợp trong từng đơn vị bài học nên việc phân chia các mức độ tích hợp trong dạy học như trên dù có 3 mức độ nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc lồng ghép, liên hệ trong bài học, là mức độ thấp của dạy học tích hợp theo cách phân chia của nhiều tác giả khác. Năm 2015, dạy học tích hợp được chia thành 4 mức độ như sau: [6]. - Tích hợp trong nội bộ môn học: tìm kiếm sự kết nối giữa các nội dung, chủ đề; 13 - Tích hợp đa môn: một chủ đề có thể xem xét trong nhiều môn học khác nhau; - Tích hợp liên môn: phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống; - Tích hợp xuyên môn: tìm cách phát triển ở học sinh những kĩ năngxuyên môn có tính chất chung và áp dụng được ở mọi nơi.

Như vậy, cách phân chia các mức độ dạy học tích hợp năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy sự phát triển trong quan điểm về dạy học tích hợp, phù hợp với quan điểm chung của nhiều nhà giáo dục. Kết hợp cả hai cách phân chia trên, Nguyễn Thị Kim Dung, 2015, đã phân chia các mức độ tích hợp theo thang tăng dần như sơ đồ dưới đây: [10] Hình 1. Sơ đồ các mức độ tích hợp [10] Trong đó, biểu hiện cụ thể của các mức độ như sau: Truyền thống Từng môn học được giảng dạy, xem xét riêng rẽ, biệt lập, không có bất kì sự liên hệ, kết nối nào giống như chụp ảnh cận cảnh từng đoạn - một hướng, một cách nhìn, sự tập trung hạn hẹp vào một môn riêng rẽ. Ví dụ, giáo viên áp dụng quan điểm này trong giảng dạy từng môn như Toán, Khoa học, Nghệ thuật, Ngôn ngữ.

một cách riêng biệt, chỉ trong khuôn khổ kiến thức của môn học mình dạy. Các vấn đề được giải quyết chỉ trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng của chính lĩnh vực bộ môn đó. Kết hợp/ lồng ghép Một nội dung nào đó được kết hợp vào chương trình đã có sẵn như sử dụng chương trình học về xã hội và xúc cảm để hướng dẫn kết hợp hoặc kết hợp, lồng ghép các chủ đề về dân số, môi trường, an toàn giao thông, sức khỏe sinh sản, kĩ năng sống. vào các lĩnh vực môn học như Địa lí, Sinh học, Giáo dục đạo đức và Công dân.

14 Tích hợp trong một môn học Tích hợp những nội dung của các phân môn, các lĩnh vực nội dung thuộc cùng một môn học theo những chủ đề, chương, bài cụ thể nhất định. Chẳng hạn như học sinh sử dụng các đại lượng khi đo độ dài, tính diện tích, thể tích. Đa môn Ở đây các môn học là riêng biệt nhưng có những liên kết có chủ đích giữa các môn học và trong từng môn bởi các chủ đề hay các vấn đề chung. Có thể sơ đồ hóa như sau: Hình 1.

Sơ đồ tích hợp đa môn [10] Theo cách tiếp cận đa môn này, một vấn đề được dạy ở nhiều môn cùng một lúc nên nội dung giảng dạy từng bộ môn không cần phải thay đổi nhiều. Nội dung và đánh giá vẫn theo đặc trưng bộ môn. Khác biệt là ở mục tiêu mong đợi: tạo ra những kết nối giữa các bộ môn đòi hỏi học sinh giải quyếtvấn đề dựa trên kiến thức thu được ở nhiều bộ môn khác nhau. Đôi khi các tiếp cận đa môn đã tạo ra những liên kết rất mạnh và khi đó thì những ngăn cách bộ môn bị mờ đi và chương trình chuyển sang mức độ liên môn.

Liên môn Các môn học được liên hợp với nhau và giữa chúng có những chủ đề, vấn đề, những khái niệm lớn và những ý tưởng lớn chung. Chương trình liên môn tạo ra những kết nối rõ rệt giữa các môn học. Chương trình cũng xoay quanh các chủ đề/ vấn đề chung, nhưng các khái niệm hoặc các kĩ năng liên môn được nhấn mạnh giữa các môn chứ không phải trong từng môn riêng biệt. Sơ đồ sau chỉ rõ tiếp cận liên môn: 15 Lịch sử Toán - Chủ đề/ vấn đề Lịch sử - Các chuẩn liên môn Hình 1.

Sơ đồ tích hợp liên môn [10] Xây dựng môn học mới bằng cách liên kết một số môn học với nhau thành môn học mới nhưng vẫn có những phần mang tên riêng của từng môn học. Ví dụ: chương trình và sách giáo khoa các môn Khoa học của Pháp được xây dựng theo hướng liên môn: môn Lí - Hoá; môn Sinh - Địa chất (hoặc Khoa học về Trái đất), chương trình tiểu học ở Việt Nam có liên môn Lịch sử - Địa lí. Xuyên môn Cách tiếp cận những vấn đề từ cuộc sống thực và có ý nghĩa đối với học sinh mà không xuất phát từ các khoa học tương ứng với môn học, từ đó xây dựng thành các môn học mới, khác với môn học truyền thống bằng cách kết hợp hai hay nhiều môn học với nhau thành những chủ đề chính hay nhánh chính và không còn mang tên của mỗi môn học. Thí dụ: Môn Khoa học (Science) của Vương Quốc Anh, Australia, Singapore.

Môn Khoa học Tự nhiên (Physical Science) của Hoa Kì, Hàn Quốc, Canada. Môn Nghiên cứu xã hội (Social Studies) của Nhật Bản, môn Nghiên cứu Xã hội và Môi trường (Studies of Society and Environment) của Australia v. Cách tiếp cận này bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực. Nó không bắt đầu bằng môn học hay bằng những khái niệm hoặc kĩ năng chung.

Điều quan tâm nhất ở đây là sự phù hợp đối với học sinh. Điểm khác duy nhất so với liên môn là ở chỗ, chúng bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực và sở thích của học sinh. Sơ đồ hóa như sau: Ngữ cảnh cuộc sống thực Dựa vào vấn đề Học sinh là người đưa ra vấn đề Hình 1. Sơ đồ tích hợp xuyên môn [10] 16 Ở góc độ khác, Đỗ Hương Trà (2012), đã phân chia 3 mức độ tích hợp trong dạy học như sau: [34] - Lồng ghép/ Liên hệ: đưa các yếu tố, nội dung gắn với thực tiễn, gắn với xã hội, gắn với các môn học khác vào dòng chảy chủ đạo của nội dung bài học của một môn học.

Ở mức độ lồng ghép, các môn học vẫn dạy riêng rẽ. Tuy nhiên, giáo viên có thể tìm thấy mối quan hệ giữa kiến thức của môn học mình đảm nhận với nội dung của các môn học khác và thực hiện việc lồng ghép kiến thức đó ở những thời điểm thích hợp. Dạy học tích hợp ở mức độ lồng ghép có thể thực hiện thuận lợi ở nhiều thời điểm trong tiến trình dạy học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ