Chương 1: Các quan niệm tôn giáo và một số khuynh hướng đạo đức học hiện đại về ĐĐMT. Chương 2: Những kinh nghiệm thế giới về BVMT và xây dựng ĐĐMT. Chương 3: Đạo đức môi trường và xây dựng ĐĐMT ở nước ta hiện nay [33]. Từ sau đề tài của PGS.TS Nguyễn Văn Phúc, một số tác giả khác đã đề cập đến ĐĐMT ở các khía cạnh khác nhau.
Dự án “Đánh giá đạo đức môi trường ở nước ta hiện nay” cuả GS.TS Vũ Dũng trên cơ sở hệ thống một số vấn đề lý luận cơ bản về ĐĐMT như khái niệm, các quan điểm nghiên cứu, những biểu hiện của ĐĐMT, các tiêu chí để xác định ĐĐMT… đã chỉ ra thực trạng ĐĐMT ở nước ta hiện nay, nguyên nhân của thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến ĐĐMT ở nước ta. Từ đó đề xuất một số kiến nghị và giải pháp về xây dựng, nâng cao ĐĐMT, qua đó góp phần xây dựng một MT bền vững ở nước ta hiện nay. Trong Báo cáo tổng kết đề tài Giáo dục đạo đức môi trường cho học sinh Trung học cơ sở, TS. Dương Quang Ngọc (chủ nhiệm đề tài) đã phân tích những khủng hoảng về MT ở nước ta, chỉ ra những nguyên nhân và đi đến 13 khẳng định: Để giáo dục ĐĐMT cho HS trung học cơ sở đạt hiệu quả cao, cần chú trọng một số giải pháp cụ thể đối với các cơ quan quản lý, nghiên cứu giáo dục; đối với nhà trường trung học cơ sở; đối với GV trung học cơ sở; đa dạng cách tiếp cận giáo dục ĐĐMT; về các điều kiện hỗ trợ khác [27].
Trong tác phẩm “Đạo đức môi trường ở nước ta - Lý luận và thực tiễn”, tác giả Vũ Dũng đã phân tích làm rõ các nội dung: (1) Một số vấn đề lý luận cơ bản về ĐĐMT. Trong phần này tác giả trình bày khái niệm ĐĐMT, các tiêu chí đánh giá ĐĐMT, sự xuất hiện và những khuynh hướng cơ bản của ĐĐMT, các chức năng cơ bản của ĐĐMT; (2) Kinh nghiệm BVMT ở một số nước nhìn từ góc độ ĐĐMT. Ở đây tác giả phân tích kinh nghiệm BVMT của một số quốc gia, chỉ ra những khía cạnh đạo đức của những hoạt động BVMT này. (3) Tổng quan về MT và ô nhiễm MT ở nước ta hiện nay.
Trong đó tác giả đề cập đến nhận thức của người dân về ĐĐMT, thực trạng hành vi ĐĐMT ở nước ta. Ở phần thứ ba, từ góc độ của ĐĐMT tác giả đã chỉ ra một thực trạng là ở hầu hết các lĩnh vực từ doanh nghiệp đến người dân, từ thành thị đến nông thôn và miền núi, chúng ta còn có nhiều hành vi mang tính phi ĐĐMT. Đó là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự ô nhiễm MT ở nước ta hiện nay. Từ đây, tác giả đề xuất một giải pháp cơ bản để BVMT là xây dựng ĐĐMT cho mọi tầng lớp nhân dân [6].
Liên quan đến GDĐĐMT còn có bài viết “Đạo đức học môi trường và vai trò của nhà trường sư phạm trong việc giáo dục đạo đức học môi trường cho thế hệ trẻ” của tác giả Nguyễn Thị Khương. Bài viết đã chỉ ra rằng đạo đức học môi trường nghiên cứu nhiều phương diện khác nhau về quan hệ đạo đức giữa con người với MT, song trước hết được thể hiện ở hai khía cạnh: thứ nhất, dựa trên cơ sở lý luận của đạo đức học truyền thống, đạo đức học MT ứng dụng vào một lĩnh vực cụ thể của thực tiễn - đó là lĩnh vực MT sống của con người mà trước hết là ĐĐMT, với hy vọng tìm ra những quan điểm, những hành vi, những quy tắc ứng xử của cá nhân với MT xung quanh mình. 14 Thứ hai, đạo đức học MT nhìn nhận như một sự mở rộng chủ thể đạo đức sang đối tượng khác. Nếu đạo đức học nghiên cứu mối quan hệ đạo đức giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, với xã hội thì đạo đức học môi trường nghiên cứu mối quan hệ giữa cá nhân với MT, với giới tự nhiên [19].
Nghiên cứu về ĐĐMT và công tác GDĐĐMT cho HS giữ một vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục toàn diện HS. Gần đây, trên quy mô cả nước, các nhà khoa học đã bước đầu có sự quan tâm tới nghiên cứu ĐĐMT, song chưa nhiều. Đặc biệt, nghiên cứu về GDĐĐMT cho HS THPT thì vẫn là mảng trống còn bỏ ngỏ. Việc lựa chọn nghiên cứu về GDĐĐMT cho HS THPT ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng của tác giả có thể coi là nghiên cứu đầu tiên ở THPT với chủ đích đóng góp sức mình vào việc nghiên cứu về GDĐĐMT nói chung cho lứa tuổi HS THPT.
Những nội dung luận văn tiếp tục nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu về ĐĐMT đã làm rõ nhiều vấn đề cơ bản của ĐĐMT; là cơ sở phương pháp luận để những người đi sau học hỏi. Trên cơ sở các công trình nghiên cứu đó, tác giả đề tài tiếp tục nghiên cứu để làm rõ những nội dung sau: - Bước đầu đề xuất khái niệm về GDĐĐMT cho HS. - Nghiên cứu để chỉ rõ thực trạng công tác GDĐĐMT cho HS THPT ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng. - Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm GDĐĐMT cho HS THPT ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng hiện nay.
Khái niệm và những nội dung giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh Trung học phổ thông trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu 1. Khái niệm đạo đức và đạo đức môi trường 1. Khái niệm đạo đức Từ xa xưa, con người đã biết dùng khái niệm “Đạo đức” để chỉ một thành tố trong tính cách và giá trị của một con người. Người được coi là có đạo đức 15 nghĩa là người đó có sự rèn luyện thực hành các lời răn dạy về đạo đức, sống chuẩn mực, có nét đẹp trong đời sống tâm hồn.
Nói đến đạo đức là nói đến con người. Tất cả những suy nghĩ, cử chỉ, hành vi của con người như đường ăn, nét ở, nét đi đứng. đều chứa đựng những yếu tố tạo nên đạo đức ở con người. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện sớm và biến đổi cùng với sự biến đổi của các hình thái kinh tế - xã hội.
Ngay từ khi xã hội hình thành, phạm trù đạo đức đã phản ánh một cách sinh động đời sống xã hội thông qua mối quan hệ biện chứng giữa con người với con người, giữa con người với xã hội. Kể từ đó, đạo đức luôn là một trong những khái niệm biến đổi thành phương thức hữu hiệu điều chỉnh hành vi của con người, góp phần quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức. Dưới đây là một số quan niệm đó: Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội [14, tr.
7] Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội [23, tr. Đạo đức là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và cả với bản thân mình [34, tr. Đạo đức là chuẩn mực mang tính lịch sử, do ý chí chung của con người trong những cộng đồng cụ thể đặt ra để điều chỉnh hành vi của chính họ cho phù hợp với quyền lợi chung của cộng đồng mà họ đang sống [12, tr. Về bản chất, đạo đức là sự phản ánh giá trị cao đẹp của đời sống con người trong mối tương quan giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội.
Đạo 16 đức là một hệ thống hoàn chỉnh gồm ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức. Ý thức đạo đức là ý thức về hệ thống những quy tắc, chuẩn mực, hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại. Mặt khác, nó còn bao trùm cả những cảm xúc, những tình cảm đạo đức của con người. Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và con người, biểu hiện trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo đức Hành vi đạo đức (còn gọi là thực tiễn đạo đức) là ý thức đạo đức được thực hiện trong thực tiễn hay nói cách khác thì đó là những hành vi diễn ra dưới sự chỉ đạo bởi ý thức đạo đức của con người trong việc thực hiện các quan hệ xã hội.
Đạo đức có một vai trò đặc biệt trong đời sống xã hội, nó trở thành mục tiêu, động lực để phát triển xã hội, đồng thời giúp con người hoàn thiện nhân cách. Khác với các hình thái ý thức xã hội khác là nó có thể mất đi, còn đạo đức thì tồn tại vĩnh viễn. Trong bất cứ xã hội nào con người cũng đều cần đến đạo đức. Việc thực hiện tốt các chuẩn mực, ý thức, hành vi đạo đức sẽ giúp cho con người có thêm động cơ và sức mạnh để đấu tranh chống lại những cái ác, cái xấu, những cái đi ngược lại lợi ích của xã hội; giữ gìn và phát triển những cái tốt, cái thiện, làm cho xã hội ngày càng phát triển.
Khái niệm môi trường tự nhiên Để hiểu “Môi trường tự nhiên là gì?” cần phải bắt đầu từ việc nghiên cứu khái niệm “Môi trường”. Trong từ điển tiếng Việt, MT được định nghĩa là “toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con người, sinh vật ấy” [42, tr. Theo điều 1, Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam năm 2014, MT “bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, 17 bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” [35, tr 17]. Ngoài hai nghĩa trên, MT còn được hiểu theo các nghĩa rộng, hẹp khác nhau.