CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VỚI ĐẠO ĐỨC TRONG VIỆC GIÁO DỤC TRẺ VỊ THÀNH NIÊN 1. Mối liên hệ giữa pháp luật và đạo đức 1. Khái niệm đạo đức, pháp luật 1. Khái niệm đạo đức Đạo đức là một khái niệm có từ lâu đời tuy nhiên lại chưa có một định nghĩa thống nhất được đưa ra.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu của các học giả đưa ra những định nghĩa về đạo đức. Trong tâm lý học, đạo đức có thể được định nghĩa theo các khía cạnh sau. Về nghĩa hẹp, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân - cá nhân và quan hệ cá nhân - xã hội. Ở nghĩa rộng hơn, đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và quan hệ với tự nhiên.
Nghĩa rộng nhất thì đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ con người với con người, con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với cả bản thân mình [17]. Theo Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó mà con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và với tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội”. [ 33;17] Trong triết học, đạo đức được hiểu là một hình thái ý thức xã hội. Có ba nhóm trường phái chính định nghĩa về đạo đức.
Có tác giả cho rằng đạo đức là những quan điểm, quan niệm. Có tác giả lại cho rằng đạo đức là những nguyên 6 tắc, quy tắc xử sự của con người. Một phần các tác giả khác lại cho rằng đạo đức vừa thể hiện ở dạng những quan điểm, quan niệm vừa thể hiện ở dạng các quy tắc xử sự [32;8]. Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức là những quan điểm, quan niệm, tư tưởng của một cộng đồng người, một giai cấp, một dân tộc về chân thiện; về hạnh phúc; về hạnh phúc; về danh dự, vinh, nhục; về trách nhiệm và tình thương; về tính trung thực, lòng vị tha, lễ sống… Đây là một công cụ để con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình trong mối quan hệ giữa người với người để tránh những xung đột không cần thiết về lợi ích giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân và xã hội.
Đạo đức gắn với những thời kỳ lịch sử nhất định, có một số những giá trị đạo đức sẽ phù hợp với một bối cảnh xã hội nhất định, bởi thế nên các chuẩn mực đạo đức không bị đóng khung mà luôn có sự thay đổi phù hợp với bối cảnh thay đổi của xã hội. Ví dụ việc có thai trước khi cưới trong xã hội phong kiến được coi là vi phạm đạo đức, phạm vào tội "ăn non đòng đòng" (chửa hoang) và sẽ phải chịu hình phạt cạo đầu bôi vôi, thậm chí sẽ bị trói chặt tay chân, bỏ vào chiếc rọ nhốt heo, quăng xuống sông và không cho phép ai bơi ra cứu vớt, nếu không sẽ xử chung tội. Tuy nhiên những quan điểm này hiện nay được cho là cổ hủ lạc hậu không còn phù hợp nên đã dần mất đi trong xã hội hiện đại. Có thể tóm gọn lại, đạo đức là hệ thống những giá trị, nguyên tắc, chuẩn mực mà xã hội đặt ra nhằm điều chỉnh hành vi con người trong mối quan hệ giữa cá nhận với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội để giảm bớt những xung đột, hành vi gây hại cho toàn xã hội.
Khái niệm pháp luật Nhà triết gia Đức - Kantơ từng nhận xét rằng: Các luật gia luôn đi tìm một định nghĩa về pháp luật. Điều đó thể hiện ở việc trong mỗi thời kỳ, tại mỗi nền luật pháp đều có những quan niệm, khái niệm về pháp luật được đưa ra. Ngay từ thời kỳ cổ đại đã được định nghĩa rằng: “Pháp luật là nghệ thuật của điều thiện và công bằng” (Jus est ars boni et aegui). 7 Còn riêng tại Việt Nam cũng có rất nhiều những khái niệm về pháp luật được đưa ra, tiêu biểu như: Theo Giáo trình Lý luận nhà nước – pháp luật của Đại học Luật Hà Nội thì: “Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội”[2;64].
Trong giáo trình Lý luận chung nhà nước và pháp luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội thì đưa ra định nghĩa rằng: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của Nhà nước, của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, đảm bảo thực hiện bằng Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội”[13;295] Pháp luật được hình thành từ ba con đường: Thứ nhất, nhà nước thừa nhận những quy tắc xử sự đang tồn tại trong xã hội và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh xã hội trong hiện tại, không mâu thuẫn với giai cấp cầm quyền và dùng quyền lực nhà nước để đảm bảo pháp luật được thực thi. Thứ hai, nhà nước thừa nhận cách giải quyết các vụ việc trên thực tế của các cơ quan nhà nước, dùng đó làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc có nội dung tương tự về sau. Thứ ba, nhà nước ban hành các văn bản QPPL thông qua các cơ quan nhà nước. Từ khi mới hình thành, pháp luật chủ yếu tồn tại dưới dạng bất thành văn.
Tuy nhiên với sự phát triển của xã hội ngày nay pháp luật chủ yếu tồn tại dưới dạng các văn bản QPPL. Từ con đường hình thành của pháp luật có thể thấy rằng pháp luật thuộc hình thái ý thức xã hội và chỉ xuất hiện khi có những chủ thể quyền lực chính trị nhà nước nói cách khác pháp luật ra đời khi xã hội có giai cấp và nhà nước. Bản chất của luật pháp phản ánh bản chất của Nhà nước đặt ra nó. Nhà nước kiểu nào thì pháp luật kiểu đó.
Chính vì vậy, luật pháp có tính chất giai cấp. 8 Luật pháp còn có tính xã hội vì nó chứa đựng những chuẩn mực chung được số đông trong xã hội ủng hộ. Nếu không luật pháp sẽ bị chống đối. Luật pháp có tính dân tộc, nghĩa là phù hợp với truyền thống, tập quán, giá trị đạo đức của các dân tộc trong đất nước.
Bản chất này cho phép luật pháp gần gũi với dân chúng, được dân chúng ủng hộ, do đó mà có hiệu quả điều chỉnh lên các quan hệ xã hội. Luật pháp có tính thời đại, nghĩa là phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của đất nước, có khả năng hội nhập với luật pháp quốc tế. Pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất để nhà nước quản lý xã hội một cách hiệu quả. Tuy nhiên, pháp luật không thuần túy chỉ là sản phẩm của Nhà nước mà còn là sự kết tinh của các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống thông qua việc luật hóa những khái niệm chuẩn mực đạo đức, những phong tục, tập quán tiến bộ trong dân gian.
Với những đặc tính ưu việt như vậy, pháp luật đóng vai trò là công cụ hữu hiệu được nhà nước sử dụng nhằm bảo đảm sự ổn định, sự phát triển bình thường của xã hội. Tuy nhiên pháp luật không thể thực hiện được vai trò của mình nếu không có sự hỗ trợ của các quy phạm xã hội khác. Bởi không phải lúc nào và ở đâu pháp luật cũng có thể điều chỉnh được hết thảy những lĩnh vực, những mối quan hệ trong đời sống xã hội. Mỗi quy phạm xã hội đều có những ưu thế và hạn chế riêng, có thể ở những mối quan hệ mà pháp luật không thể vươn tới điều chỉnh được lại là phạm vi điều chỉnh của phong tục, tập quán.
Điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật và đạo đức trong giáo dục trẻ vị thành niên 1. Những nét tương đồng giữa đạo đức và pháp luật trong giáo dục trẻ vị thành niên Theo Tuân tử: “Người ta sinh ra là có lòng muốn, muốn mà không được thì không thể không tìm, tìm mà không có chứng mực, giới hạn thì không thể không tranh. Tranh thì loạn, loạn thì khốn cùng”[42;321]. Vậy nên để xã hội có thể tồn tại với trật tự, trạng thái ổn định, cân bằng thì phải có những khuôn 9 khổ, chuẩn mực nhất định.
Cả pháp luật và đạo đức đều là tập hợp những quy tắc xử sự chung, là khuôn khổ, khuôn mẫu, chuẩn mực hướng dẫn con người cách xử sự trong xã hội nhằm hướng tới mục tiêu quan trọng nhất đó là góp phần bảo vệ các giá trị chân, thiện, mỹ điều chỉnh hành vi của các cá thể trong xã hội nhằm bảo vệ những lợi ích chung của con người của cả cộng đồng và xã hội. Pháp luật cưỡng chế người ta phải có những hành động hoặc không hành động bằng những tác động đến từ quyền lực nhà nước, còn đạo đức sẽ buộc con người hành động với áp lực của lương tâm, bằng sự giác ngộ bên trong tâm trí, nhận thức của mỗi người. Giữa pháp luật của nhà nước và đạo đức truyền thống không có sự đối lập, cả hai đều hướng tới mục tiêu vì sự công bằng và lẽ phải, vì con người, lấy con người làm trung tâm, là đối tượng bảo vệ, nhằm thiết lập nên những mối quan hệ tốt đẹp trong xã hội. Nếu như đạo đức truyền thống đưa ra những quan niệm về tình yêu thương giữa con người với con người, về cái thiện cái ác, về lòng vị tha, sự trung thành… thì pháp luật của Nhà nước lại thể hiện tính nhân dân, nhân đạo sâu sắc, là đại lượng của sự công bằng và lẽ phải.
Pháp luật và đạo đức là hai hình thái ý thức xã hội thuộc thượng tầng kiến trúc. Giữa pháp luật và đạo đức tồn tại nhiều điểm chung, tương đồng, chúng bổ sung và hỗ trợ cho nhau trong nhiều hoạt động điều chỉnh xã hội của nhà nước.