đặt vấn đề trọng tâm của ngôn ngữ giao tiếp trong những năm đầu cấp Tiểu học thông qua mô hình có tên gọi là ICPALER. Mục đích của mô hình nhằm trang bị cho GV những nội dung cơ bản cũng như cách kiểm soát các KN ngôn ngữ của HS. Những nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi có một cái nhìn tổng thể về việc rèn luyện và phát triển NLNN đồng thời thấy rõ tầm quan trọng, vai trò của NLNN trong chương trình dạy Tiếng mẹ đẻ cho HS đầu cấp TH ở một số quốc gia. Qua đó, chúng tôi đã xác định: - Vai trò của các KN ngôn ngữ được xếp ngang hàng với nhau, KN Nghe – Nói có thể được xem là KN nền tảng để phát triển KN Đọc – Viết.
Luan van 12 - Việc rèn luyện và phát triển NLNN cần được tiến hành đồng thời với việc cung cấp tri thức ngôn ngữ, mà trong phạm vi đề tài này hướng đến chính là hình thành và rèn luyện hành vi đạo đức cho HS lớp Ba đáp ứng đúng yêu cầu của hệ thống mẫu hành vi (theo chương trình môn Đạo đức 3). Phát triển NLNN là giúp HS biết cách sử dụng công cụ ngôn ngữ vào quá trình tư duy và giao tiếp trong môi trường sống hằng ngày của các em. Một số công trình nghiên cứu về năng lực ngôn ngữ cho HS Tiểu học ở Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề nâng cao NL và phẩm chất cho HS nói chung đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu. Trong đó, việc phát triển NL học tập của các em đang được từng bước đẩy mạnh.
Chúng tôi xin điểm lại một số tài liệu có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu của đề tài: - Tác giả Bùi Văn Huệ (1997) [18] và hai tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh và Trần Thi Thu Mai (2007) [14] đã viết các giáo trình chuyên sâu nhằm nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của HSTH. Trong các tài liệu này, các tác giả đều đã định hướng cho GV và sinh viên sư phạm những nội dung về sự phát triển ngôn ngữ của HSTH. Các tác giả đều đã nhấn mạnh đến vấn đề: khi trẻ bắt đầu bước vào độ tuổi đi học, các em sẽ được tiếp cận với một hình thức ngôn ngữ mới đó là ngôn ngữ viết. Việc HS có thể nắm bắt được ngôn ngữ viết cùng với sự phát triển tiếp theo của ngôn ngữ nói có tính chất lô-gic và có sức truyền cảm, từ đó sẽ đảm bảo cho các em khả năng để nhận thực tế và để giao tiếp rộng rãi.
- Tác giả Nguyễn Quang Ninh đã bàn đến việc rèn KN nói và viết theo hướng giao tiếp trong hai công trình “Một số vần đề dạy học ngôn bản nói và viết ở TH theo hướng giao tiếp” [24] và“Rèn KN sử dụng Tiếng Việt” [29]. Tác giả nhấn mạnh vấn đề hội thoại theo hướng giao tiếp, đồng thời cho rằng: Hội thoại là HĐ giao tiếp bằng miệng giữa các nhân vật tham dự giao tiếp nhằm trao đổi những thông tin hoặc trao đổi tư tưởng, tình cảm. theo mục đích đã được đặt ra. Luan van 13 - Bài viết “Kinh nghiệm dạy học ngôn bản theo phương pháp giao tiếp ở một số nước” [33] của tác giả Nguyễn Trí đã bàn về cơ cấu hệ thống chương trình dạy ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói cho HSTH.
Theo tác giả, phương hướng dạy học giao tiếp và để giao tiếp đã làm thay đổi nội dung chương trình dạy Tiếng mẹ đẻ của một số nước trên thế giới. - Trong cuốn sách “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa” (2010) [16], tác giả Trần Bá Hoành cho rằng: “Phát triển NL của HS đồng nghĩa với việc GV gắn học tập với cuộc sống hằng ngày, thường xuyên sử dụng dạy học tình huống nhằm giúp HS tập dượt vào các tình huống thực tế.” - Gần đây, tài liệu “Lí luận dạy học Tiếng Việt ở TH” [37] của tác giả Hoàng Thị Tuyết đã nêu đầy đủ tất cả các vấn đề về lý luận dạy học Tiếng Việt, các phương pháp dạy học, các cách thức đánh giá. Trong đó, tác giả đã có nhận định chung “đọc chính là hiểu văn bản viết”. Cả nghe và đọc đều liên quan đến một loại “hội thoại” trong đầu khi con người nghe hay đọc liên hệ thông tin mới với những điều đã biết.
Khi đọc để hiểu văn bản viết, người đọc không cần phải để tâm vào mọi chi tiết của văn bản viết, tương tự để hiểu khi nghe, người nghe cũng không cần chú tâm nghe mọi điều. Song, bên cạnh đó, nói và viết cũng có mối quan hệ tương hỗ với nhau: nói tốt thì viết tốt, nói là cơ sở để viết. Ngược lại, nói tốt tác động đến NL tạo lập ý nghĩ khi viết. Khả năng viết của HS chịu ảnh hưởng của khả năng nói, nghe và đọc.
- Ngoài ra, một số luận văn luận án khác cũng đề cập đến vấn đề này từ các phương diện khác nhau, ví dụ như: Tạ Thị Thu Xuân -“Rèn KN nghe - kể chuyện cho HS lớp 3 qua phân môn Tập làm văn”; Nguyễn Hoài Thu - “Ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đến ngôn ngữ viết của HS trung học phổ thông” [29]; Ngô Hiền Tuyên - “Rèn KN nghe – nói cho HS lớp một trong dạy học Tiếng Việt” [36]… Có thể thấy, các công trình nghiên cứu của các tác giả kể trên đã bàn đến mục tiêu, nội dung, BP phát triển NLNN cho HS. Tuy nhiên, các vấn đề trên Luan van 14 mới chỉ được đề cập chủ yếu đến môn Tiếng Việt, môn học liên quan trực tiếp đến ngôn ngữ mà chưa được nghiên cứu sâu ở các môn học khác một cách cụ thể. Các phương pháp tăng cường hiệu quả nhằm định hướng phát triển NL cho HSTH gắn với chương trình và sách giáo khoa hiện nay đã được đề cập tới vẫn chưa được khai thác sâu sắc và triệt để. Tóm lại, từ việc xem xét tổng quan vấn đề nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng các tài liệu này tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ gắn với quá trình phát triển ngôn ngữ trong môn học tiếng mẹ đẻ nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng nhưng nhìn chung, các tác giả vẫn chưa thể hiện rõ tầm quan trọng của quá trình ấy trong các môn học khác.
Do vậy, chúng tôi hướng đến nghiên cứu nội dung để tìm ra BP phát triển NLNN cho HS lớp Ba một cách hiệu quả là việc làm cần thiết, nhằm hỗ trợ GV không chỉ trong quá trình dạy học môn Đạo đức mà còn định hướng HĐ cho GV ở các môn học khác và các khối lớp tiếp theo. Khái niệm cơ bản của đề tài 1. Một số vấn đề lý luận về quá trình dạy học Tiểu học 1. Khái niệm về quá trình dạy học Quá trình dạy học Tiểu học là một quá trình gồm toàn bộ hoạt đồng của GV và HS được GV hướng dẫn nhằm làm cho HS tự giác nắm vững hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, trên cơ sở đó phát triển được năng lực nhận thức, năng lực hành động và hình thành những cơ sở của thế giới quan khoa học.
Xét về bản chất của quá trình dạy học, tác giả Đặng Vũ Hoạt- Hà Thị Đức cho rằng: “Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo được tiến hành dưới vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học…” [17, tr. Dưới ánh sáng của khoa học sư phạm hiện đại, dạy học là hoạt động tương tác giữa hai chủ thể: GV và HS. GV làm nhiệm vụ giảng dạy còn HS có nhiệm vụ học tập; hai HĐ này được phối hợp chặt chẽ theo một quy trình, một nội Luan van 15 dung và hướng tới cùng một mục tiêu đó là phát triển trí thông minh và NL học tập sáng tạo của người học. Để hiểu rõ hơn quá trình dạy học Tiểu học, ta cần xem xét những yếu tố hợp thành của HĐ này.
Lý luận dạy học tư sản đưa ra lý thuyết gọi là “tam giác lý luận dạy học”, cho rằng quá trình dạy học gồm ba thành tố: GV, HS và nội dung dạy học. Quan niệm này đã đưa ra được những thành phần cơ bản nhất của quá trình dạy học nhưng còn chưa đầy đủ và không thấy được tính chất phức tạp của quá trình. Các nhà lý luận dạy học Nga cho rằng quá trình dạy học chịu sự chi phối của mục đích trí dục và được đặc trưng bỏi sự tương tác của các thành tố sau: - Nội dung dạy học: hệ thống hóa những tri thức khoa học. - Hoạt động của GV: tạo động cơ, chỉ đạo hoạt động độc lập của HS để nghiên cứu và vận dụng kiến thức, kiểm tra tri thức, kỹ năng.
- Hoạt động của HS: những hoạt động trí lực và thể lực. - Môi trường học tập gồm những phương tiện vật chất phục vụ cho dạy học, không gian, thời gian, địa điểm… Theo chúng tôi, việc tiếp cận quá trình dạy học theo quan điểm hệ thống toàn vẹn khi và chỉ khi hoạt động dạy học phải tạo ra được sự cân bằng giữa hoạt động của hai chủ thể. Đồng thời sự phối hợp giữa các thành tố này phải tạo ra chất lượng mới có lực lớn hơn tổng lực của các thành tố, đó được gọi là kiến thức mới. Trong bốn thành tố trên, hai thành tố dạy (hoạt động của GV) và học (hoạt động của HS) là hai thành tố sinh thành, bởi sự thay đổi giữa một trong hai thành tố này đều kéo theo sự thay đổi của các thành tố khác.
Do đó, sự tương tác giữa hai thành tố sẽ tạo ra chất lượng mới cho cả quá trình dạy học. Dạy học môn Đạo đức Ở bậc TH, môn Đạo đức được cấu trúc trên quan điểm đồng tâm theo hướng phát triển: Chương trình kết hợp năm chủ đề lớn thành một thể thống Luan van 16 nhất có quan hệ qua lại với nhau. Theo trục cơ sở đó, môn Đạo đức lớp Ba cũng được xây dựng trên quan điểm này theo hướng các kiến thức, KN trong môn học là sự nâng cao dần kiến thức, KN của nhiều hành vi đạo đức trong xã hội. Trong quá trình dạy học, môn Đạo đức được tiếp cận theo hướng đi từ quyền đến trách nhiệm, bổn phận của HS.
Cách tiếp cận đó sẽ giúp cho việc dạy học môn Đạo đức trở nên nhẹ nhàng, sinh động hơn, tránh được tính chất nặng nề, áp đặt trước đây. Dạy học môn Đạo đức chỉ đạt hiệu quả khi HS hứng thú và tích cực, chủ động tham gia vào quá trình day học.