Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Vị thành niên Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì vị thành niên là những người trong độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi (5). Theo tài liệu “Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ CSSKSS” của Việt Nam, lứa tuổi VTN thì từ 10-19 tuổi và được chia làm 3 giai đoạn: VTN sớm từ 10-13 tuổi, VTN giữa từ 14-16 tuổi và VTN muộn từ 17-19 tuổi (3).
Vị thành niên là thời kỳ phát triển về thể chất, trí tuệ và những thay đổi hành vi, tâm lý được nhận biết qua việc nâng cao mức độ tự chủ bản thân, nhận thức về cái “tôi”, lòng tự trọng và tính độc lập (6), (7). Tuổi vị thành niên là giai đoạn cuối cùng trong quá trình phát triển của trẻ em Tuổi VTN được xem là thời kỳ chuyển tiếp độ tuổi từ trẻ em sắp bước sang tuổi người lớn. Đây là giai đoạn chuyển tiếp nhưng là một giai đoạn khác biệt về quan trọng trong cuộc sống con người (8). Trong giai đoạn này tâm sinh lý có rất nhiều thay đổi, bước đầu hình thành nhân cách đồng thời đánh dấu bước phát triển nhiều từ phạm vi gia đình, các em bước đầu gia nhập vào tập thể cùng nhóm tuổi và quan hệ xã hội cộng đồng, đồng thời phát triển những tố chất, kỹ năng.
Với các đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt, các em muốn tự mình khẳng định nên tính cách, hành vi ứng xử cũng dễ thay đổi. Những thay đổi và phát triển này bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các phong tục tập quán dân tộc của các nước mà trong từng nước, từng dân tộc lại có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển (9), (10). Sức khoẻ sinh sản Năm 1994 tại Cairo Hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển có định nghĩa SKSS như sau: “Sức khỏe sinh sản là tình trạng khỏe mạnh về thể lực, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó” (11), (12). 5 Sức khỏe sinh sản VTN: “Là tình trạng khỏe mạnh về thể lực, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản ở tuổi VTN, chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó” (5).
Giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên Là những nội dung SKSS VTN nhằm giúp VTN có những kiến thức tối ưu về SKSS, về tâm sinh lý, tâm lý tình dục của VTN ở giai đoạn này. Các vấn đề SKSS VTN thường được nói đến có các nội dung chính như: - Giáo dục về giới tính, sức khỏe tình dục và sinh sản ở tuổi VTN. - Cung cấp các thông tin tránh thai ngoài ý muốn và phá thai không an toàn. - Những nguy cơ do thai sản ở tuổi VTN.
- Phổ biến vệ sinh kinh nguyệt, vệ sinh bộ phận sinh dục. - Cung cấp các thông tin và cách phòng tránh bệnh LTQĐTD. - Những nguy cơ dẫn đến vô sinh. - Giải thích những đồn đại không đúng về tuổi VTN (9).
Sức khoẻ tình dục, tình dục an toàn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, biện pháp tránh thai và phá thai Sức khỏe tình dục: Là trạng thái khỏe mạnh thể chất, cảm xúc, tinh thần và xã hội liên quan đến tình dục; nó không chỉ đơn thuần là không có bệnh, rối loạn chức năng hoặc bệnh tật. Sức khỏe tình dục (SKTD) đòi hỏi một cách tiếp cận tích cực và tôn trọng thái độ và các mối QHTD, hay khả năng có những trải nghiệm thái độ thú vị và an toàn, không bị ép buộc. Để đạt được và duy trì SKTD, quyền lợi tình dục của tất cả mọi người phải được tôn trọng, bảo vệ và thực hiện (9). Tình dục an toàn: Là áp dụng giải pháp nhằm giúp tránh thai hữu hiệu, an toàn, phòng lây truyền HIV và các bệnh nhiễm khuẩn LTQĐTD.
Tình dục không an toàn: quan hệ tình dục dương vật với âm đạo không sử dụng bao cao su (BCS), QHTD dương vật với hậu môn có hoặc không dùng BCS (3). Bệnh lây truyền qua đường tình dục 6 Là các bệnh do vi khuẩn, vi rút, nấm, kí sinh trùng, đơn bào và các nguyên nhân khác gây nên và lây lan qua QHTD không được bảo vệ như, qua đường máu và lây từ mẹ sang con (13). Bệnh LTQĐTD có thể phòng ngừa hay có thể điều trị khỏi, tuy nhiên phòng bệnh vẫn là quan trọng nhất. Biện pháp tránh thai Là phương thức can thiệp tác động lên cá nhân nhằm ngăn ngừa việc có thai ở người phụ nữ.
Các biện pháp tránh thai (BPTT) hiện nay thường được sử dụng như: Thuốc viên uống tránh thai, thuốc tiêm tránh thai, thuốc cấy tránh thai, bao cao su, dụng cụ tử cung, tính vòng kinh. Hiện nay, đa số những biện pháp tránh thai được áp dụng hiệu quả, an toàn với vị thành niên/thanh niên. Nhưng hiện có một số phương tiện tránh thai là thích hợp cho VTN như kiêng giao hợp, BCS tránh thai, thuốc tránh thai uống, thuốc tránh thai uống khẩn cấp (14). Phá thai Là cách thức áp dụng các thủ thuật làm kết thúc thai kỳ nhằm kết thúc sớm thai kỳ, trước thời điểm thai nhi ra đời có thể sống sót được.
Việc thực hiện phá thai sẽ gây hậu quả khôn lường, nhất là ở VTN do đa số VTN thường chưa có đầy đủ kiến thức về cơ chế có thai và sức khỏe tình dục. Do đó, nếu biết có thai thì thường là thai lớn muốn can thiệp đôi khi đã quá thời gian quy định an toàn, khi đó sẽ để lại tìm ẩn những tai biến cao hơn sau phá thai, đặc biệt là hậu quả để lại về tinh thần nặng nề cho lứa tuổi VTN (2). Thực trạng sức khoẻ sinh sản trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Theo WHO, khoảng 1,2 tỷ người, tương đương với 1/6 dân số thế giới là thanh thiếu niên từ 10-19 tuổi.
Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho các bé gái 15-19 tuổi trên toàn cầu là các biến chứng do mang thai và sinh nở (15). Tại Bangladesh, thanh thiếu niên có ít kiến thức SKSS và sức khỏe tình dục, những người trẻ tuổi thường gặp những vấn đề có liên quan đến tuổi dậy thì và rủi 7 ro liên quan đến hành vi tình dục như phá thai, bệnh LTQĐTD, HIV/AIDS. Việc kết hôn sớm khá phổ biến ở các vùng nông thôn, có khoảng 85% các cô gái đã kết hôn trước 16 tuổi. Một phần ba TTN 15-19 tuổi bắt đầu sinh con, 28% đã sinh con và 5% khác đang mang thai đứa con đầu lòng.
Các cô gái trẻ phải đối mặt với việc có mang thai ngoài ý muốn, và phá thai không an toàn (16). Theo thống kê cho thấy có khoảng 16 triệu bé gái 15 - 19 tuổi và 2,5 triệu bé gái dưới 16 tuổi sinh con mỗi năm ở các khu vực đang phát triển có nguy cơ gây tử vong cho các bé gái khi có thai- sinh nở, đây là nguyên nhân hàng đầu toàn cầu (17), (18). Mỗi năm, khoảng 3,9 triệu cô gái từ 15 đến 19 tuổi trải qua phá thai không an toàn (19). Mặc dù tỷ lệ sinh ở tuổi VTN toàn cầu đã giảm từ 65 ca sinh trên 1000 phụ nữ vào năm 1990 xuống còn 47 ca sinh trên 1000 phụ nữ vào năm 2015.
Tuy nhiên, bất chấp những tiến bộ chung này, do số thanh thiếu niên toàn cầu tiếp tục tăng, nên các dự báo đều cho thấy số ca mang thai ở tuổi VTN sẽ tăng trên toàn cầu vào năm 2030, với sự gia tăng tỷ lệ lớn nhất ở Tây và Trung Phi và Đông và Nam Phi (10). Năm 2008, tại các quốc gia ước tính có 3 triệu cô gái dưới 20 tuổi tìm cách phá thai tại các nơi phá thai bất hợp pháp và không an toàn. Theo WHO, một nửa các ca sinh nở ở tuổi VTN xảy ra tại 7 quốc gia: Bangladesh, Brazil, Dân chủ Cộng hòa Congo, Ethiopia, Ấn Độ, Nigeria và Hoa Kỳ (7), (20), (21). Một nội dung sức khỏe quan trọng khác ở tuổi VTN đó là HIV/AIDS.
Theo thống kê của WHO, năm 2017 có khoảng 1,8 triệu trẻ VTN mắc HIV trên toàn cầu, chiếm 5% tổng số người nhiễm HIV, tuynhiên, VTN mới nhiễm HIV lại chiếm tới 16% số người trẻ mới mắc HIV (22). Từ năm 2010 đến 2015, số trẻ VTN từ 10 đến 14 tuổi tử vong liên quan đến AIDS đã giảm (còn khoảng 20,000 ca vào năm 2015), nhưng số VTN từ 15 đến 19 tuổi chết liên quan đến AIDS lại tăng lên tới 20,800 ca vào năm 2015. Trên thực tế, nhóm tuổi VTN là nhóm duy nhất có tỷ lệ tử vong liên quan đến AIDS không giảm trong khoảng từ năm 2000- 2015, ngược lại nó còn tăng lên gấp đôi trong khoảng thời gian này (23), (24). Tại Việt Nam Theo kết quả điều tra Quốc gia về SKSS và sức khoẻ tình dục của Thanh thiếu niên Việt Nam trong độ tuổi 10-24 ỏ 8 tỉnh và thành phố năm 2015 cho thấy: Những người đã từng kết hôn ở cả hai giới, có 14,7% kết hôn trước 18 tuổi.
Tỷ lệ kết hôn nhân ở tuổi VTN ở dân tộc thiểu số và người không di cư cao hơn; Tỷ lệ mang thai trong độ tuổi 15-18 là 3,5% trên tổng số 1.455 nữ TTN; Trong số nữ trong độ tuổi 15-18, 0,2% đã từng phá thai. Phá thai ở VTN dân tộc thiểu số có tỷ lệ cao hơn so với VTN dân tộc Kinh. VTN đã kết hôn cũng có tỷ lệ phá thai cao hơn so với VTN chưa từng kết hôn; Trong số nữ 15-19 tuổi có 4,1% đã từng sinh một đứa con sống và 0,7% đang có thai đứa con đầu tiên, và điều này có nghĩa là 4,8% nữ TTN đã bắt đầu giai đoạn sinh con; Tỷ lệ nam TTN có hoạt động tình dục trong độ tuổi 15-18 (42,0%) tự báo cáo các triệu chứng nhiễm khuẩn đường sinh sản cao hơn so với thanh niên có hoạt động tình dục trong độ tuổi 19-24 (26,1%) (p<0,01); Hơn một nửa (54,7%) nữ TTN có hoạt động tình dục cho biết họ có ít nhất một triệu chứng nhiễm khuẩn đường sinh sản trong vòng 6 tháng qua. Các triệu chứng tự báo cáo phổ biến nhất ở nữ là đau bụng (39,1%) và khí hư có mùi hôi (1).
Ở SAVY 1, số nữ thanh thiếu niên chưa lập gia đình đã từng có thai rất thấp (n=11) nên không đưa ra một bình luận nào nhưng cho rằng nhóm này ít đi khám thai (4/11 nguời cho biết có đi khám thai 1 lần) (25).