CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ Ý THỨC RÈN LUYỆN, TU DƯỠNG ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 1. Đạo đức và một số khái niệm cơ bản 1. Đạo đức Đạo đức là một hiện tượng xã hội, một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, là một trong những giá trị tinh thần quan trọng của con người, trong sự phát triển, tiến bộ của xã hội. Vì vậy, trong suốt quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, vấn đề đạo đức luôn được xã hội quan tâm, đặc biệt là các nhà triết học.
Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc vấn đề tốt - xấu, hơn nữa được xem như đúng - sai. Cho đến nay khi bàn về đạo đức có nhiều hệ thống lý thuyết tiêu biểu tiếp cận đạo đức theo hướng khác nhau. Theo các nhà chủ nghĩa duy tâm khách quan và các nhà thần học: Platon và Heeghen lấy “ý niệm” hoặc “ý niệm tuyệt đối” để giải thích nguồn gốc và bản chất của đạo đức. Với các nhà thần học thì cho đạo đức có nguồn gốc từ thần thánh.
Còn theo các nhà chủ nghĩa duy tâm chủ quan thì coi đạo đức là năng lực “tiên thiên” của lý trí con người, ý chí hay “thiện ý” theo cách gọi của Canto là một năng lực có tính nhất thành, bất biến có kinh nghiệm, nghĩa là có trước và độc lập với những hoạt động mang tính xã hội của con người. Khuynh hướng tiếp cận đạo đức của các nhà chủ nghĩa duy vật trước Mác: họ nhìn thấy đạo đức trong mối quan hệ của con người. Nhưng con người chỉ là một thực thể trừu tượng, bất biến. Con người ở bên ngoài lịch sử, giai cấp, dân tộc và nhân loại.
Với quan niệm đúng đắn về đạo đức của chủ nghĩa Mác - Lênin thì đạo đức được hình thành và phát triển trong quá trình con người hoạt động, lao động sản xuất, từ những quan hệ con người với con người trong quá trình hoạt động. Sự hình thành những phẩm chất đạo đức của con người gắn với tình cảm gia đình, với ý thức cộng đồng, giai cấp, dân tộc và nhân loại. Trong Chống Đuyring, Ănghen viết: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế, xã hội lúc bấy giờ”. Tiếp tục phát triển quan niệm 6 Luan van về đạo đức của chủ nghĩa Mác-Lenin, G.Bandzeladze cho rằng “đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu hiện sự quan tâm tự giác của những con người trong xã hội với nhau và trong quan hệ xã hội nói chung.
Bản chất đạo đức là sự quan tâm sự giác của những con người đến lợi ích của nhau, đến lợi ích của xã hội”. Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của người đối với nhau và đối với xã hội” Các khái niệm đạo đức đều phản ánh mối quan hệ tương hỗ của con người một cách trực tiếp hay gián tiếp nhằm mang lại lợi ích cho người khác, cho xã hội trên cơ sở chuẩn mực, những quy tắc định hướng điều chỉnh các hành vi của con người hướng tới mục tiêu thống nhất đó là mục tiêu đạo đức. Vì thế, có thể hiểu khái niệm đạo đức một cách khái quát như sau: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực xã hội, nhằm tự điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện với những niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”. Với tư cách là một phương thức để điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ thì đạo đức có 3 chức năng: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi.
Các chức năng đều có vai trò, vị trí nhất định và có quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau. Trong đó chức năng giáo dục và điều chỉnh hành vi có vai trò quan trọng nhất vì trên cơ sở nhận thức được chức năng giáo dục đạo đức giúp con người hình thành nhân cách, định hướng giá trị và các chuẩn mực đạo đức, điều chỉnh ý thức cho phù hợp với lợi ích của xã hội. Quá trình điều chỉnh hành vi được tiến hành một cách tự giác của các cá nhân đạo đức trên cơ sở của những chuẩn mực đạo đức xã hội và nó cần được sự quan tâm, đánh giá, khen ngợi, khuyến khích hay phê bình của dư luận xã hội trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức chung. Đây chính là chức năng xã hội hết sức quan trọng của đạo đức.
Qua đó mới tạo nên sự phát triển cân đối trong quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội. Ý thức đạo đức Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội xuất hiện rất sớm ở trong thời kỳ nguyên thủy. Trong chế độ nguyên thủy quan niệm đạo đức gắn liền 7 Luan van với những quan niệm về tôn giáo và nghệ thuật, sau đó nó phát triển hoàn chỉnh và có tính độc lập tương đối khi mà xã hội phân chia thành giai cấp. Ý thức đạo đức là những quan niệm về thiện - ác, hạnh phúc, nghĩa vụ công bằng, lương tâm cùng những nguyên tắc nhằm điều chỉnh, đánh giá hành vi của con người trong các mối quan hệ đối xử với nhau và đối xử với xã hội.
Đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, trước hết là nhu cầu phối hợp hoạt động trong các quan hệ xã hội, hệ thống các quy tắc và chuẩn mực đạo đức ngày càng hoàn thiện và phát triển. Khác với pháp quyền điều chỉnh xã hội bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, thì đạo đức điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng sức mạnh của dư luận xã hội, tập quán và giáo dục, nên ảnh huởng của đạo đức rộng lớn hơn pháp quyền. Sự tự ý thức đạo đức về lương tâm, danh dự và lòng tự trọng,… phản ánh khả năng của mỗi người tự chủ mà không có sự giám sát thường xuyên của xã hội. Giá trị phổ biến của đạo đức là tính nhân đạo, về cái thiện cái ác, về bản chất của con người và xã hội, nó không chỉ giới hạn trong mỗi dân tộc, mỗi quốc gia mà có tính chất lịch sử toàn nhân loại.
Trong xã hội có giai cấp đạo đức mang tính giai cấp. Bởi vì, sự đối lập về lợi ích của các giai cấp khác nhau thì đồng thời mỗi một giai cấp có những quan niệm về đạo đức khác nhau. Tính giai cấp của đạo đức thể hiện tập trung thông qua vai trò của các giai cấp thống trị xã hội. Đạo đức dựa trên sức mạnh của dư luận xã hội, phong tục tập quán, truyền thống của mỗi dân tộc, nó mang tính dân tộc.
Nên ngoài quan niệm của giai cấp thống trị đạo đức tự nó vẫn có giá trị riêng mang tính chất tộc loại và toàn nhân loại. Đạo đức cộng sản là sự tiếp thu những giá trị đạo đức đích thực trong lịch sử phát triển của xã hội, mà quần chúng nhân dân lao động đã tạo ra trong các thời đại lịch sử trước, và có tất cả những đặc điểm của hệ tư tưởng khoa học của giai cấp công nhân. Trong xã hội hiện nay bên cạnh những truyền thống đạo đức tốt đẹp cần phải phát huy và xây dựng những chuẩn mực và gía trị đạo đức mới có lối sống lành mạnh, có lý tưởng cách mạng, trung thực, sống bằng lao động của chính mình, có ý thức bảo vệ của công,… và chống lại lối sống thực dụng, dối trá, ích kỷ ăn bám, chạy theo đồng tiền,… Cho nên, mỗi cán bộ đảng viên và mỗi người 8 Luan van dân phải không ngừng bồi dưỡng phẩm chất đạo đức mới, đấu tranh cho sự nghiệp dân giầu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh. Đạo đức cách mạng Phạm trù đạo đức cách mạng là sự kế thừa và phát triển đạo đức truyền thống mang tính cách mạng in đậm dấu ấn Hồ Chí Minh, nhà văn hóa kiệt xuất, danh nhân văn hóa, nhà chính trị thiên tài, anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam.
Khi định nghĩa đạo đức cách mạng một cách khái quát, có nội hàm rộng, chung cho trong phạm vi thế giới, Người viết: “Đạo đức cách mạng là: Quyết tâm giúp đỡ loài người ngày càng tiến bộ và thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, luôn luôn giữ vững tinh thần chí công vô tư”. Khi định nghĩa đạo đức cách mạng một cách cụ thể, gần gũi trong phạm vi nước ta, Người viết: “… đạo đức cách mạng là: Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng.
Đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”.
Đa phần các phạm trù đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh đều sử dụng các phạm trù cũ như: Cần, kiệm, liêm, chính, trung, hiếu, nhân, nghĩa, trí, dũng. Nhưng Người chuyển hóa mang một nội hàm mới phù hợp với yêu cầu của xã hội, thời đại mới, thời đại cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội tức là xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, tự do, hạnh phúc. Ví dụ, khi nói về người Đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính phải có: “NHÂN” là thật thà thương yêu hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân.
Vì thế mà sẵn lòng chịu khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. “NGHĨA” là ngay thẳng không có tư tâm, không làm việc bậy, không có 9 Luan van việc gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ đều ra sức làm cẩn thận.
Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn đúng đắn. “TRÍ” là không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận.