mở đầu của việc thiết lập bộ quy chuẩn có thể coi, một mặt là bằng chứng về sự xuất hiện các quan niệm đạo đức nghề nghiệp; mặt khác, là sự xác nhận rằng cuối cùng thì sự hình thành kéo dài nhiều thế kỷ của đạo đức nghề nghiệp nhà báo đã kết thúc và nó bắt đầu hành chức với mức độ hiệu quả như mong muốn”. Và đây chính là lời giải thích cho nghịch lý về “độ tuổi” của đạo đức nghề nghiệp nhà báo: Nó dường như “trẻ” hơn nghề báo nếu tính từ thời điểm thiết lập bộ các quy chuẩn, song đồng thời nó cũng “già” hơn nghề báo nếu tính từ thời điểm xuất hiện nhận thức về bản thân nó. Ngoài ra, tác giả còn phân tích các mối quan hệ giữa nhà báo với Tổ quốc, đất nước; nhà báo với nhân dân; nhà báo với Đảng Cộng sản; nhà báo với công chúng; nhà báo với nguồn tin; nhà báo với nhân vật trong tác phẩm: của mình; nhà báo với ban biên tập; nhà báo với đồng nghiệp trong và ngoài tòa soạn; nhà báo với cộng tác viên, thông tin viên. Những luan an tien si 14 kết luận, nội dung và phương pháp nghiên cứu trong tác phẩm này giúp nghiên cứu sinh có thêm cơ sở để xây dựng lý luận về đạo đức nghề nghiệp.
Trong luận án phó tiến sĩ năm 1992: “Các tiêu chí về đạo đức trong hoạt động nghề nghiệp nhà báo”, nhà nghiên cứu báo chí người Nga I. Kumyganova viết: “Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, ngay từ thời điểm xuất hiện nghề báo thì đạo đức nghề nghiệp đã là một thành tố không thể tách rời của nó. Tức là trong quá trình hình thành các chức năng đặc thù của báo chí trong hệ thống các thiết chế xã hội, trong quá trình phân tách báo chí thành một nghề độc lập, đã xuất hiện sự nhận thức về đạo đức của con người làm trong ngành này”. Ông cho rằng, một xã hội phát triển phải biết đến hai hình thức tổ chức hoạt động: Nghiệp dư và chuyên nghiệp.
Bất kỳ hoạt động nào, khi vừa xuất hiện cũng mang tính nghiệp dư. Nghiệp dư là thời kỳ đầu trong chặng đường phát triển của hoạt động và là hình thức tổ chức có tính sơ khai của nó. Hoạt động nghiệp dư có đặc điểm là được con người thực hiện theo sở thích cá nhân, không lệ thuộc vào khuôn khổ của các bổn phận nghĩa vụ nào đó, không có sự đào tạo cơ bản, không chịu trách nhiệm khắt khe về kết quả. Còn hoạt động chuyên nghiệp hình thành trong quá trình phân hoá xã hội của lao động trên cơ sở hoạt động nghiệp dư, thế nhưng nó không triệt tiêu hoạt động nghiệp dư mà cả hai song song cùng tồn tại.
Sau khi trở thành loại công việc chính đối với con người, hoạt động chuyên nghiệp đã được bổ sung thêm những nét mới. Nó diễn ra dưới dạng thực hiện các bổn phận chức vụ trong khuôn khổ sự hợp tác với các thành viên khác của nó, có quan hệ chặt chẽ với việc chịu trách nhiệm về kết quả (sản phẩm), đòi hỏi sự đào tạo cơ bản, nói tóm lại, nó đã trở thành một nghề. Và như vậy, chúng ta thấy là một nghề (bất cứ nghề, nào cũng vậy) luôn ra đời sau cái hoạt động mà nó gắn bó. Những kết luận, nội dung và phương pháp nghiên cứu trong tác phẩm này giúp nghiên cứu sinh có thêm cơ sở để xây dựng lý luận về tiêu chí đạo đức trong hoạt động nghề nghiệp.
luan an tien si 15 Trong bài: “Ethics Programs” (Chương trình giáo dục đạo đức), Journal of Business Ethics (1992) (Tạp chí Đạo đức kinh doanh), tác giả Brenner, S. cho rằng, “giáo dục đạo đức, nhất là giáo dục đạo đức kinh doanh là yếu tố quyết định sự thành bại của mọi công ty. Vì vậy, việc làm sáng tỏ nội hàm của đạo đức kinh doanh, các yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức kinh doanh và tìm ra giải pháp nâng cao đạo đức kinh doanh là hết sức cần thiết”. Trong số các giải pháp nâng cao đạo đức kinh doanh, tác giả cho rằng, giải pháp quan trọng nhất là “tính trung thực trong kinh doanh và điều kiện, chế tài bảo đảm thực hiện đạo đức kinh doanh”.
Tính trung thực trong kinh doanh là không lừa đảo, lừa dối, không làm giả, làm nhái hàng hóa, không trốn thuế, không đưa thông tin sai lệch cho khách hàng. Đây cũng chính là đạo đức nghề nghiệp mà các doanh nhân muốn thành đạt đều phải tuân thủ. Những kết luận, nội dung và phương pháp nghiên cứu trong tác phẩm này giúp nghiên cứu sinh có thêm cơ sở để xây dựng lý luận về giáo dục đạo đức. Trong cuốn: “Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc giải quyết mối quan hệ cá nhân - xã hội trong đạo đức của người cán bộ cách mạng”, Nhà xuất bản Chính trị, Hà Nội, năm 2010, trang 13-18 [58], tác giả Phạm Huy Kỳ cũng đã bàn khá kỹ “các khái niệm đạo đức, đạo đức cách mạng; cá nhân, xã hội; lợi ích, lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội; người cán bộ cách mạng, đạo đức người cán bộ cách mạng; mối quan hệ cá nhân - xã hội trong đạo đức người cán bộ cách mạng.
Tác giả cũng đã phân tích tư tưởng của Hồ Chí Minh để đi đến khẳng định: “Đã là người cán bộ cách mạng thì phải có đạo đức cách mạng. Đạo đức của người cán bộ cách mạng là luôn luôn đặt lợi ích xã hội, lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân. Chỉ khi nào mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức và ý thức được như vậy mới đủ năng lực và bản lĩnh xử lý các tình huống mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình”. Những kết luận, nội luan an tien si 16 dung và phương pháp nghiên cứu trong tác phẩm này giúp nghiên cứu sinh có thêm cơ sở để xây dựng lý luận về đạo đức của người cán bộ cách mạng.
Trong cuốn: “Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo”, Nhà xuất bản Chính trị, Hà Nội, năm 2011, trang 5-10 [39], tác giả Nguyễn Thị Trường Giang đã đưa ra quan niệm chung về đạo đức và khái niệm đạo đức nghề nghiệp. Theo tác giả, đạo đức được định nghĩa “là một hình thái ý thức xã hội, tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”. “Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức xã hội, là đạo đức trong một lĩnh vực cụ thể trong đạo đức chung của xã hội. Đạo đức nghề nghiệp bao gồm những yêu cầu đạo đức đặc biệt, các quy tắc và chuẩn mực trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định, nhằm điều chỉnh hành vi của các thành viên trong nghề nghiệp đó sao cho phù hợp với lợi ích và sự tiến bộ của xã hội”.
Chỉ ra những yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp của nhà báo Việt Nam hiện nay là: “Trung thành với lý tưởng của đất nước, nhân dân và Đảng Cộng sản; phản ánh chân thật, khách quan; gần dân, yêu dân; có tinh thần tự phê bình và phê bình; rèn luyện, học tập suốt đời”. Những biểu hiện tích cực trong đạo đức nghề nghiệp của nhà báo Việt Nam, đó là: “Trung thành với lợi ích của đất nước của nhân dân; dũng cảm phát hiện, biểu dương cái tốt và đấu tranh chống lại cái xấu; luôn có ý thức giữ gìn bản sắc, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; yêu nghề, gắn bó mật thiết với thực tiễn; tích cực tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện”. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những vi phạm đạo đức nghề nghiệp của nhà báo. Nguyên nhân của tình trạng này, theo tác giả gồm “Nguyên nhân chủ quan là nhà báo thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức; thiếu kiến thức cơ bản về báo chí.
Nguyên nhân khách quan là sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường; thu nhập thấp; hành lang pháp lý còn nhiều kẽ hở; sức ép về sự nhanh nhạy của thông tin”. luan an tien si 17 Trên cơ sở vi phạm và nguyên nhân của vi phạm đạo đức nghề nghiệp của nhà báo, tác giả đã đưa ra giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp của nhà báo Việt Nam, đó là: “Phát huy tính tự giác, tự rèn luyện đạo đức của mỗi nhà báo và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức. Trong bài: “Đạo đức nghề nghiệp nhà giáo” của Trung tâm gia sư DACADEMY (2022), https://dacademy.vn/gia-su-day-kem-95/, truy cập ngày 05/11/2022 đã làm sáng tỏ: (1) Khái niệm đạo đức nhà giáo “là những chuẩn mực mà đối với mỗi giáo viên nào khi tiến hành giảng dạy và ngồi trên bục giảng đều phải có. Nó là những thứ gắn chặt với quá trình chăm sóc, giảng dạy, giáo dục đời sống cho các em học sinh”.
(2) Các yêu cầu cơ bản trong bối cảnh mới cần đảm bảo đạo đức nhà giáo: Bối cảnh mới đặt ra yêu cầu về các phẩm chất đạo đức nhà giáo cần rèn luyện. Các phẩm chất đạo đức nhà giáo cần rèn luyện đó bao quát trên cả ba mặt lĩnh vực về phẩm chất chính trị; lối sống, tác phong; giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo. Những kết luận, nội dung và phương pháp nghiên cứu trong tác phẩm này giúp nghiên cứu sinh có thêm cơ sở để xây dựng lý luận về đạo đức nghề nghiệp. Những công trình nghiên cứu về tuyên truyền và tuyên truyền đạo đức nghề nghiệp Trong cuốn: “Tuyên truyền: Sự hình thành của thái độ”, Nhà xuất bản New York, năm 1973, trang 34-39, tác giả Jacques Ellul cho rằng “Tuyên truyền là việc đưa ra các thông tin (vấn đề) với mục đích đẩy thái độ, suy nghĩ, tâm lý và ý kiến của quần chúng theo chiều hướng nào đấy mà người nêu thông tin mong muốn”.
Mục tiêu của tuyên truyền hiện đại không dừng lại ở thay đổi suy nghĩ hay thái độ của quần chúng, mà cần phải tạo hành động trong quần chúng. “Tuyên truyền không chỉ lôi kéo cá nhân ra khỏi sự tin tưởng cũ, mà cần phải làm cá nhân đó tin vào suy nghĩ mới và đưa đến hành động có lợi cho thế lực tuyên truyền. Cá nhân bị tuyên truyền sẽ mất luan an tien si 18 khả năng lựa chọn và phản xạ tự nhiên và từ đó sẽ làm những hành động với sự tin tưởng không cần bằng chứng cụ thể”.