CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệmcó liên quan Chất lượng: Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, chất lượng được hiểu là “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” [89]. Theo Bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế ISO 9001, chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó có những khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã được công bố và tiềm ẩn.
Còn trong quy định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo định nghĩa chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và cả nước [6]. Chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu đi nữa. Đánh giá chất lượng cao hay thấp phải đứng trên quan điểm người tiêu dùng.
Cùng một mục đích sử dụng như nhau, sản phẩm nào thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn thì có chất lượng cao hơn. Yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm hay dịch vụ thường là: tốt, đẹp, bền, sử dụng lâu dài, thuận lợi, giá cả phù hợp.Chất lượng là sự đáp ứng của sản phẩm đào tạo đối với các chuẩn mực và tiêu chí đã được xác định.Theo tiêu chuẩn Pháp NFX 50-109: “Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng” [37]. Chất lượng giáo dục: Chất lượng giáo dục là những lợi ích, giá trị mà kết quả học tập đem lại cho cá nhân và xã hội, trước mắt và lâu dài [34]. Chất lượng giáo dục là chất lượng con người được đào tạo từ các hoạt động giáo dục.
Chất lượng ở đây phải được hiểu theo hai mặt của một vấn đề: Các phẩm chất của con người gắn liền với người đó, còn giá trị của con người thì phải gắn liền với đòi hỏi của xã hội. Theo quan niệm hiện đại, chất lượng giáo dục phải bảo đảm hai thuộc tính cơ bản: tính toàn diện và tính phát triển [29]. Nó không phải là chất lượng sản phẩm hay kiểu dáng công nghiệp. luan an 5 Chất lượng giáo dục đại học được xem là sự đáp ứng mục tiêu do nhà nước đề ra và đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục theo đúng Luật giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước.
Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT vào ngày 1/11/2007 được Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo ký ban hành để có thể đánh giá chất lượng giáo dục đào tạo[6]. Bộ tiêu chuẩn năm 2007 đã được đổi mới so với Bộ tiêu chuẩn cũ năm 2004. Với Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục Đại học mới, Bộ đã không đặt ra những mục tiêu hay đặt mức như Bộ tiêu chuẩn cũ mà để các trường tự đánh giá về kết quả học tập, tỷ lệ đầu ra nhằm hạn chế tình trạng một số trường làm việc chống đối, chạy theo thành tích đầu ra. Bên cạnh đó, bộ tiêu chuẩn mới đánh giá về chất lượng giáo dục Đại học cũng đưa ra những tiêu chí rõ ràng, cụ thể hơn và luôn có sự liên kết với điều lệ của mỗi trường Đại học [6].
Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục Đại học gồm 10 tiêu chuẩn - 61 tiêu chí thay cho bộ tiêu chuẩn cũ với 10 tiêu chuẩn - 53 tiêu chí; bao gồm: Tiêu chuẩn 1: Sứ mạng và mục tiêu của trường Đại học Tiêu chuẩn 2: Tổ chức và quản lý Tiêu chuẩn 3: Chương trình đào tạo Tiêu chuẩn 4: Hoạt động đào tạo Tiêu chuẩn 5: Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên Tiêu chuẩn 6: Người học Tiêu chuẩn 7: Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ Tiêu chuẩn 8: Hoạt động hợp tác quốc tế Tiêu chuẩn 9: Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác Tiêu chuẩn 10: Tài chính và quản lý tài chính Với 10 tiêu chuẩn trên về đánh giá chất lượng giáo dục Đại học, câu hỏi đặt ra ở đây là làm sao để nâng cao chất lượng giảng dạy, chất lượng đào tạo? Chất lượng giáo dục thể chất: Chất lượng GDTC là kết quả tổng hợp của quá trình GDTC, phản ánh trong các phẩm chất và năng lực, đặc biệt là các năng luan an 6 lực thể chất của người học, phù hợp với mục tiêu GDTC cho từng cấp học, bậc học và ngành nghề đào tạo. Chất lượng GDTC cũng được hiểu là chất lượng con người được đào tạo ra từ các hoạt động GDTC, ở đây được hiểu là chất lượng cả mặt GDTC và giáo dưỡng thể chất. Quan điểm xây dựng và phát triển GDTC ở nước ta hiện nay là: Lấy việc nâng cao sức khoẻ, thể lực học sinh, sinh viên là mục tiêu quan trọng nhất, xuyên suốt quá trình học tập; Đảm bảo tính khoa học, sư phạm, kết hợp truyền thống văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học GDTC hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới; Đảm bảo tính khả thi, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi và giới tính, với sức khoẻ và thể lực học sinh, sinh viên. Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập trong công tác GDTC ở các cấp bậc học, là chưa có tiêu chí đánh giá chất lượng GDTC.
Vì vậy Tiêu chí đánh giá chất lượng GDTC và thể thao trường học, thuộc nội hàm Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục Đại học. Đánh giá chất lượng GDTC: Đánh giá chất lượng GDTC cho sinh viên về cơ bản là quá trình xác định thực hiện các mục tiêu trên thực tế của việc dạy học môn GDTC trong nhà trường; là quá trình dựa vào mục tiêu để đánh giá sự phát triển, sự tiến bộ của SV, thành quả và giá trị của việc thực hiện kế hoạch giáo dục. Theo tác giả Vũ Đức Văn: Mục tiêu cuối cùng đánh giá chất lượng GDTC phải trả lời các câu hỏi chất lượng dạy học "tăng lên", "đứng yên" hay "tụt xuống, "phù hợp" hay "chưa phù hợp", nguyên nhân và mức độ của chúng [87]. Trong thực tiễn, người ta có thể đánh giá chất lượng GDTC một cách trực tiếp thông qua chất lượng sản phẩm giáo dục (người học) hoặc đánh giá gián tiếp thông qua việc đánh giá chất lượng các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục và có thể kết hợp cả hai cách đánh giá nêu trên.
Giải pháp: Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Giải pháp” được hiểu là phương pháp giải quyết một vấn đề [89]. Ở đây giải pháp được hiểu là cách thức, là một công cụ người ta dùng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn. Trong cách hiểu này đôi khi người ta cũng dùng thuật ngữ “biện pháp” để thay thế. Theo từ điển Tiếng Việt “biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [89].
luan an 7 Tuy nhiên hai khái niệm này có thể dùng thay thế cho nhau trong thực tiễn, nhưng về bản chất, khái niệm “giải pháp” có nghĩa là nội dung rộng lớn hơn, có tính chất vĩ mô hơn so với “ biện pháp” thường để chỉ cách thức giải quyết một công việc cụ thể nào đó. Theo nghĩa này, người ta còn xem biện pháp là cách thức, công cụ thực hiện giải pháp để thực hiện giải pháp đó. Trong đề tài luận án sử dụng khái niệm giải pháp với ý nghĩa là cách thức để nâng cao chất lượng GDTC và TTTNT cho SV ĐHĐN. Như vậy khái niệm giải pháp mà luận án sử dụng còn là một phương thức tổ chức thực hiện gồm có mục đích, nội dung, đơn vị phối hợp, biện pháp tổ chức thực hiện.
Phương pháp dạy học: Là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt được mục đích dạy học. Phương pháp dạy học là khái niệm hẹp hơn, đưa ra các mô hình hoạt động. Chuẩn kiến thức: Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (gọi chung là yêu cầu) cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, được dùng làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm của lĩnh vực đó. Đạt được những yêu cầu của chuẩn là đạt được mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lý hoạt động, công việc, sản phẩm đó.
Học lực: Đó là sức học vào loại: giỏi, khá, trung bình, yếu kém. Học lực trong GDTC đó là sức học về thể dục, là mức độ tiếp thu về kiến thức, kỹ năng vận động theo mục tiêu, yêu cầu của chương trình môn học. Cũng như các môn học khác, học lực thể dục được đánh giá theo mức độ: Giỏi, khá trung bình, kém. Thể chất: Theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, thể chất chỉ chất lượng thân thể con người.
Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục, rèn luyện). Thể chất bao gồm thể hình, năng lực thể chất và năng lực thích ứng” [83]. Thể hình liên quan đến hình thái, cấu trúc của thân thể, bao gồm trình độ phát triển của cơ thể, những chỉ số tuyệt đối và tương đối của toàn thân hoặc từng bộ phận và tư thế thân thể. Năng lực thể chất thể hiện khả năng chức năng của các hệ thống, cơ quan trong cơ thể qua hoạt động cơ bắp là chính.
Nó bao gồm các tố chất vận động (Sức nhanh, sức mạnh, độ dẻo và khả năng phối hợp vận luan an 8 động.Năng lực thích ứng thể hiện khả năng thích ứng của cơ thể với hoàn cảnh bên ngoài, không chỉ là sự thích ứng đơn giản mà còn là đề kháng với bệnh tật. Phát triển thể chất: Theo Nôvicôv.P “Phát triển thể chất của con người là quá trình biến đổi các tính chất hình thái và chức năng tự nhiên của cơ thể con người trong suốt cả cuộc sống cá nhân của nó” [60].