phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và các Phụ lục, luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý chƣơng trình đào tạo theo hƣớng đảm bảo chất lƣợng đào tạo đại học 6 luan an Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về quản lý chƣơng trình đào tạo theo hƣớng đảm bảo chất lƣợng ở trƣờng đại học Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về quản lý chƣơng trình đào tạo theo hƣớng đảm bảo chất lƣợng tại Học viện Ngân hàng Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý chƣơng trình đào tạo theo hƣớng đảm bảo chất lƣợng tại Học viện Ngân hàng 7 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HƢỚNG ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC Trƣớc xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh chóng, bao trùm các lĩnh vực của đời sống xã hội, đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức mới trong hoạt động giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng. Đổi mới và nâng cao chất lƣợng các CTĐT đại học trở thành mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia phát triển bởi chất lƣợng GDĐH là cơ sở tạo nên nguồn nhân lực chất lƣợng cao, góp phần phát triển kinh tế xã hội bền vững. Trên thế giới, nhiều nƣớc đã và đang thực hiện đổi mới giáo dục theo hƣớng phát triển hệ thống ĐBCLvới các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá quản lý các CTĐT trong trƣờng đại học. Về cơ bản, các công trình nghiên cứu theo các hƣớng nghiên cứu sau: 1.1 Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1 1 1 Hướn n n c u về xây dựn , p át tr ển c ươn trìn ào tạo ạ ọc Peter F.
Quan điểm này cho thấy, khi thiết kế CTĐT, nhà trƣờng cần chú trọng đến tính toàn diện trong giáo dục bao gồm từ tổ chức đến đào tạo kiến thức, tri thức và các kỹ năng cần thiết cho ngƣời học. (1991) đã nghiên cứu CTĐT và đi đến kết luận, việc thiết kế CTĐT cần phải dựa trên năng lực của ngƣời học. Nghĩa là, nhà trƣờng cần bám sát nhu cầu, năng lực ngƣời học ở mỗi ngành, mỗi cấp học để thiết kế CTĐT sao cho phù hợp, vừa sức, đảm bảo tính cập nhật, cải tiến CTĐT đáp ứng yêu cầu của xã hội. Wentling (1993) cho rằng: “Chƣơng trình đào tạo nhƣ một bản thiết kế tổng thể cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể trông đợi ở ngƣời học sau khóa học, nó phác họa ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo” [96, tr.
Điều đó có nghĩa là, bất cứ CTĐT nào đòi hỏi khi xây dựng phải đƣợc mô tả rõ nội dung đào tạo, các quy trình đào tạo và cách thức triển khai phù hợp với đối tƣợng đào tạo nhằm 8 luan an đạt đƣợc kết quả mong đợi từ phía ngƣời học. Diamond (1997) nhận định: “Thiết kế một chƣơng trình hay một khoá học có uy tín thƣờng là khó khăn, tốn nhiều thời gian và rất thách thức. Nó đòi hỏi phải đầu tƣ suy nghĩ về việc sử dụng những tài liệu này thế nào, rồi sinh viên phải học cái gì, và cuối cùng là chúng ta, với tƣ cách là giáo viên của họ làm thế nào để cho quá trình này trở nên dễ dàng” [45, tr. Tác giả cho rằng cần phải thƣờng xuyên xem xét lại các CTĐT và tiến hành những thay đổi thích hợp thông qua việc thiết kế lại các CTĐT.
Se Yung Lim (2005) đã chỉ rõ trong nghiên cứu “Kinh nghiệm và ảnh hƣởng của xu hƣớng nhu cầu công nghiệp của giáo dục kỹ thuật bậc cao tại Hàn Quốc” về việc chú trọng phát triển CTĐT hƣớng tới nhu cầu phát triển nhân lực của doanh nghiệp. Theo đó, tác giả khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa nhà trƣờng và cơ sở GDĐH trong xây dựng, thiết kế CTĐT, phối kết hợp trong đào tạo, nghiên cứu và chuyên giao công nghệ [81]. Đây là hƣớng đi mới, phù hợp với thực tiễn ở tất cả các nƣớc đã và đang phát triển trong đó có Việt Nam, bởi trên thực tế, nếu CTĐT chỉ đƣợc xây dựng trên cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm trong đào tạo của nhà trƣờng mà không có tham vấn từ bên sử dụng nhân sự thì khó có thể đáp ứng đáp yêu cầu nhân lực trong bối cảnh mới nhất là bối cảnh nền kinh tế số đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam. Lee Little Soldier (2006) chú trọng đến thiết kế CTĐT thích hợp.
Sự thích hợp, theo Lee Little Soldier phải đƣợc xuất phát từ thực tế biến đổi của xã hội. Tuy nhiên sự thích hợp bao gồm nhiều thành tố, CTĐT sẽ thiếu tính cân đối, tính tiện dụng và lôgic nếu các thành tố này không đƣợc sử dụng làm màng lọc cho việc ra quyết định khi thiết kế CTĐT [55]. Quan điểm này một mặt vừa nhấn mạnh việc xây dựng CTĐT cần chú trọng đến thực tế biến đổi của XH vừa nhấn mạnh lƣu ý các thành tố, hay là các nguồn lực của nhà trƣờng sao cho ĐB sự thích hợp khi thiết kế CTĐT. Trong báo cáo tổng hợp “Phát triển và hỗ trợ chƣơng trình giảng dạy” của Đại học Glasgow Caledonian, Terry Mayes (2014) đã chỉ rõ ba mục tiêu trong phát triển CTĐT đại học đòi hỏi bất cứ tổ chức giáo dục nào khi xây dựng CTĐT đều phải xác định rõ, bao gồm: Chƣơng trình đào tạo, theo nghĩa rộng nhất, đƣợc định hình và phân phối nhƣ thế nào? Ngƣời học là ai và chƣơng trình học đƣợc thiết kế cho ai? Cần hỗ 9 luan an trợ gì cho đội ngũ giảng viên? Khi đã xác định rõ các mục tiêu trên, Terry Mayes cho ràng việc chia nhỏ từng giai đoạn trong xây dựng CTĐT bậc đại học là rất cần thiết nhằm mang lại hiệu quả cao trong giáo dục của mỗi ngành đào tạo [83].
Nghiên cứu của Ankrah và Al-Tabbaa (2016) cho thấy tác giả rất chú trọng và đề cao phát triển CTĐT gắn kết trong mối quan hệ giữa nhà trƣờng và doanh nghiệp. Sự hợp tác giữa trƣờng đại học và doanh nghiệp trong xây dựng CTĐT thực chất không chỉ mang lại lợi ích cho nhà trƣờng và ngƣời học mà nó còn mang lại lợi ích cho chính doanh nghiệp, thể hiện sự hợp lý, hiệu quả và mang tính ổn định. Các bên đều phải chịu trách nhiệm trƣớc các chính sách về phát triển nhân lực chất lƣợng của chính phủ và các chiến lƣợc quốc gia khác. Các trƣờng đại học có thể tiếp cận cơ sở vật chất và thiết bị trong các doanh nghiệp, đổi lại doanh nghiệp có thể tiếp nhận sinh viên thực tập, trao cơ hội việc làm bán thời gian và qua đó, doanh nghiệp có cơ hội tuyển dụng nhân sự phù hợp [68].
Có thể nói, các nghiên cứu liên quan đến xây dựng, phát triển CTĐT ở nƣớc ngoài phần lớn tập trung vào việc nghiên cứu xây dựng CTĐT, cách thức thiết kế CTĐT, tổ chức triển khai CTĐT và đề cao việc thiết lập mối quan hệ giữa nhà trƣờng với doanh nghiệp trong xây dựng, phát triển CTĐT đáp ứng yêu cầu xã hội. 1 1 2 Hướn n n c u về quản lý c ươn trìn ào tạo ạ ọc Vấn đề quản lý CTĐT đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, xem xét dƣới nhiều giác độ khác nhau. Trong tài liệu hƣớng dẫn quản lý CTĐT, nhóm triển khai dự án cải thiện quản lý tại Campuchia đã xuất phát từ quan điểm coi quản lý chƣơng trình đào tạo là việc áp dụng kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật đối với hoạt động đào tạo để hiện thực hóa kết quả của đào tạo. Theo cách tiếp cận đó, quản lý CTĐT đƣợc xem xét nhƣ một chu trình khép kín, và là một phần của phát triển năng lực ngƣời học với mục tiêu cụ thể, phù hợp với đối tƣợng ngƣời học [89].Lewis (2005), cần xem xét và coi quản lý CTĐT mang tính hệ thống bao gồm 7 thành phần tham gia nhƣ: con ngƣời, văn hóa, phƣơng pháp, nguồn lực nhà trƣờng, nội dung, kế hoạch và thông tin.
Theo đó, quản lý CTĐT phải đƣợc xem nhƣ quản lý dự án, đòi hỏi bộ phận quản lý phải biết cân bằng 7 thành phần trên 10 luan an trong mỗi ngành đào tạo và phải có kiến thức, kỹ năng, công cụ kỹ thuật để xử lý các tình huống diễn ra trong quá trình quản lý [80]. Owen (2006) cung cấp quan điểm thực tế của quá trình đánh giá CTĐT. Owen kiểm tra các đóng góp của đánh giá để cung cấp chƣơng trình, và đƣa ra các kỹ thuật đã đƣợc chứng minh liên quan đến các bên liên quan trong quá trình lập kế hoạch và phổ biến các kết quả đánh giá. Tác giả cho rằng, CTĐT hiệu quả phải đƣợc xem xét kỹ trong tính tổng thể bao gồm quản lý đánh giá, kế hoạch đánh giá, tính logic chƣơng trình và so sánh với đánh giá trƣớc đây, dựa trên bằng chứng, quản lý hiệu suất và trách nhiệm [87].
Trong tài liệu của Viện Quản lý dự án Hoa Kỳ (2000) về Hƣớng dẫn kiến thức cho cơ quan quản lý dự án, các tác giả khẳng định quản lý chƣơng trình đào tạo phải mang tính hệ thống, góp phần đảm bảo chất lƣợng đào tạo. Nhƣ vậy, quản lý CTĐT đƣợc xem nhƣ một khâu trong quy trình đào tạo phát triển nhân lực của một cơ sở giáo dục đào tạo, đòi hỏi có kế hoạch cụ thể với các công cụ, kỹ năng phù hợp nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra [88]. Fullan (2016) cho rằng, các quy trình quản lý đào tạo thay đổi hiệu quả khi chúng xây dựng năng lực và quyền làm chủ giữa những ngƣời tham gia. Tác giả nêu ra 4 tiêu chí có thể đƣợc sử dụng để đánh giá hiệu quả của sự thay đổi trong quá trình quản lý CTĐT, bao gồm: “Thúc đẩy động lực nội tại của giáo viên và ngƣời học; hỗ trợ cải tiến liên tục việc giảng dạy và học tập; khuyến khích nỗ lực tập thể hoặc làm việc theo nhóm; quy trình quản lý tác động đến tất cả giáo viên và ngƣời học” [75].
Có thể nói, nghiên cứu về quản lý CTĐTđƣợc tiếp cận dƣới nhiều giác độ khác nhau, mặc dù các nghiên cứu đều có điểm chung khi cho rằng, cơ sở giáo dục đại học khi xác định rõ vai trò của quản lý CTĐT mang tính hệ thống sẽ góp phần cải thiện chất lƣợng đào tạo, nhƣng chƣa có nghiên cứu nào xác định rõ các thành phần trong quản lý CTĐT đại học cho ngành học cụ thể, phù hợp với các Tiêu chuẩn kiểm định chất lƣợng CTĐT theo AUN-QA.