Phần mở đầu. Phần 2: Phần nội dung: Gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lí công tác giáo dục bảo vệ môi trƣờng cho học sinh các trƣờng THCS. Chƣơng 2: Thực trạng quản lí công tác giáo dục bảo vệ môi trƣờng cho học sinh các trƣờng THCS vùng ven biển huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định Chƣơng 3: Biện pháp quản lí công tác giáo dục bảo vệ môi trƣờng cho học sinh các trƣờng THCS vùng ven biển huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định Phần 3: Kết luận và khuyến nghị. Ngoài phần chính còn có phần phụ lục và phần danh mục các tài liệu tham khảo.
e 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ CÔNG TÁC GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Sự phát triển của công tác giáo dục bảo vệ môi trường Giáo dục là một hiện tƣợng xã hội đặc biệt, là sự tác động có định hƣớng, có mục tiêu, có tổ chức, có kế hoạch. Đó là quá trình hoạt động có sự kết hợp đồng bộ vai trò chủ đạo của ngƣời thầy với sự tự giác, tích cực chủ động và rèn luyện của trò nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ. Từ những năm cuối thế kỉ XIX cho đến những năm cuối thế kỷ XX, giai đoạn chủ nghĩa Mác-Lênin xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của nền khoa học – kỹ thuật.
Khoa học giáo dục thực sự phát triển và có nhiều biến đổi về lƣợng và chất. Những vấn đề chủ yếu của chủ nghĩa Mác-Lênin đã định hƣớng cho sự nghiệp giáo dục là các quy luật về sự hình thành nhân cách con ngƣời, tính quy định về kinh tế - xã hội đối với giáo dục… Dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, nhiều nhà khoa học Xô viết cũ đã thông qua lý luận dạy học để gián tiếp thể hiện những quan điểm của mình về chất lƣợng giáo dục, hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực. Giáo sƣ Patrick Geddes (1854-1932) - nhà xã hội học, nhà sinh vật học, nhà môi trƣờng học, nhà quy hoạch đô thị ngƣời Scotland, từ năm 1892 ông đã chỉ ra mối quan hệ quan trọng giữa chất lƣợng môi trƣờng với chất lƣợng giáo dục. Từ ngay thập niên 70, giáo dục môi trƣờng (GDMT) đã đƣợc đƣa vào hệ thống giáo dục trung học phổ thông ở nhiều nƣớc: Trung Quốc, Phần Lan, Bỉ, Mỹ và nhiều quốc gia khác.
Từ năm 1987, hàng năm Liên Hợp Quốc chọn ra những ngƣời có nhiều đóng góp cho hoạt động bảo vệ môi trƣờng để trao thƣởng Global 500 e 7 Bên cạnh những Hội nghị với các chƣơng trình, chiến lƣợc và giải pháp GDMT chung, còn có nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội, ở các lĩnh vực, ở các trƣờng đại học, cao đẳng, tiêu biểu có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: -GDMT và thái độ với môi trƣờng (Environmental education and environmental attitudes) của Alvin Pettus – Environment EANL. Công trình này đã đánh giá kết quả một số cuộc thử nghiệm. Các cuộc thử nghiệm đó đƣợc tiến hành để đo lƣờng thái độ với môi trƣờng và tìm ra các nhân tố ảnh hƣởng đến những thái độ đó. Nội dung công trình nghiên cứu đã đƣa ra một số kết luận: ở nơi có càng nhiều thông tin vế GDMT thì sẽ giúp con ngƣời có càng nhiều biện pháp để cải tạo chất lƣợng môi trƣờng; điều kiện sống và làm việc có ảnh hƣởng đến việc kiểm soát về môi trƣờng và tham gia vào các hoạt động môi trƣờng; niềm tin, văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi thái độ của con ngƣời về môi trƣờng; ở khu vực tƣ nhân thì thái độ với bảo vệ môi trƣờng khác với khu vực cộng đồng.I Packer, giảng viên Đại học kỹ thuật Queensland, Brisbane, Australian đã có công trình nghiên cứu “Dạy và học trong giáo dục môi trƣờng: phát triển nhận thức về môi trƣờng (Teaching and learning in environmental education: Developing Environmental Conceptions)”.
Công trình đã trình bày mô hình lý thuyết nhằm phát triển nhận thức về môi trƣờng. Mô hình đó là việc thống nhất về kiến thức, thái độ và định hƣớng hành vi với môi trƣờng. Bên cạnh đó, công trình cũng đề cập đến việc áp dụng những nguyên tắc tích cực trong dạy học, cung cấp nền tảng nhằm khuyến khích sinh viên các trƣờng đại học nên tích cực hơn, đối diện với những mâu thuẫn và đƣa ra những quyết định đánh giá đƣợc sự quan tâm của họ đối với các quan điểm về môi trƣờng. Các thông tin, quan điểm do ngƣời học đề xuất, cung cấp sẽ giúp các nhà môi trƣờng thiết kế những khóa e 8 học trải nghiệm trong dạy học, phát triển những quan niệm về môi trƣờng cùng với việc thực hiện cam kết các hành vi có trách nhiệm trong môi trƣờng và vì môi trƣờng.
-Kế hoạch giáo dục để bảo vệ trái đất (planning Education to care for the earth) của Joy Palmer, Wendy Goldstein, Anthony Cumom do Ủy ban Giáo dục truyền thông và tổ chức Liên minh bảo tồn thế giới công bố đã nhận định: “Những kinh nghiệm đã hình thành thông qua hoạt động tích cực của học sinh với môi trƣờng có tính quyết định nhất đối với sự hình thành ý thức, mối quan tâm đến môi trƣờng và các vấn đề môi trƣờng. Đó chính là quá trình trải nghiệm của học sinh trong môi trƣờng, khi các em sử dụng môi trƣờng nhƣ là phƣơng tiện để lĩnh hội kiến thức, thực hành các kỹ năng và bồi dƣỡng thái độ, đề cao giá trị của môi trƣờng cũng nhƣ trách nhiệm của bản thân và cộng đồng trƣớc các vấn đề về môi trƣờng. Học tập dựa vào trải nghiệm chính là cách học tập dựa trên cách tiếp cận “Giáo dục trong môi trƣờng”. Địa điểm học tập thƣờng gắn liền với thiên nhiên ngoài lớp học.
Thông qua những hoạt động học tập dựa vào trải nghiệm, từ hành động trực tiếp với môi trƣờng, học sinh sẽ lĩnh hội đƣợc các kiến thức và kĩ năng về môi trƣờng, các vấn đề môi trƣờng. Tóm lại các công trình nghiên cứu trên thế giới đã kết luận một số nội dung: các nhân tố khác nhau có ảnh hƣởng khác nhau đến thái độ của con ngƣời đối với vấn đề bảo vệ môi trƣờng; ngƣời học khi tham gia vào các khóa học “Sống trải nghiệm với môi trƣờng” sẽ giúp cho mỗi cá nhân có cơ hội học hỏi và nâng cao các kỹ năng cần thiết để đảm bảo an toàn, cảm thấy thích thú và có thái độ đúng đắn với các khu vực môi trƣờng sinh thái; những kinh nghiệm đƣợc hình thành thông qua các hoạt động tích cực của học sinh với môi trƣờng có tính quyết định nhất đối với sự hình thành ý thức, mối quan tâm đến môi trƣờng và các vấn đề môi trƣờng. Giáo dục bảo vệ môi trường ở Việt Nam Trong nhiều năm qua, vấn đề về GDMT và bảo vệ môi trƣờng (BVMT) đƣợc Đảng và nhà nƣớc ta quan tâm. Việc triển khai các văn bản chỉ đạo, tổ chức dạy học các nội dung có liên quan đến GDMT và BVMT đã thực sự sâu rộng trong nhân dân và học sinh.
Từ năm 1982, Việt Nam cũng đã hƣởng ứng các hoạt động kỷ niệm Ngày môi trƣờng Thế giới trong phạm vi cả nƣớc. Hàng năm Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng thƣờng phối hợp với các cơ quan liên quan phát động và tổ chức sôi nổi ngày lễ này ở tất cả các tỉnh thành trên cả nƣớc với các hoạt động nhƣ tổ chức các chiến dịch làm sạch đẹp môi trƣờng làm việc….và cũng chọn ra một số địa phƣơng đại diện làm nơi tổ chức các hoạt động trọng tâm cho cả nƣớc. Vào năm 1993, Luật BVMT đƣợc Quốc hội sửa đổi, bổ sung ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 đã coi GDMT là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Điều 5 của Luật nêu rõ: Nhà nƣớc “khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cộng đồng dân cƣ, hộ gia đình, mọi cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trƣờng [14] Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành Chỉ thị số 02/2005/CT- BGDĐT ngày 31 tháng 01 năm 2005 của Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng cƣờng công tác giáo dục BVMT.
Nội dung Chỉ thị có nêu: “đối với giáo dục phổ thông: Trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng về Môi trƣờng và BVMT bằng các hình thức phù hợp trong các môn học”. Chỉ thị 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng cũng là việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ chính trị (khóa IX) về “BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc”. Các văn bản này là cơ sở, điều kiện pháp lý quan trọng cho việc tổ chức, triển khai các hoạt động giáo dục BVMT trong các cơ sở giáo dục. e 10 Song song đó, một số tác giả cũng đã có những công trình nghiên cứu với những nội dung tập trung vào các lĩnh vực nhƣ: -Về mục tiêu, nội dung và các giải pháp GDMT cho học sinh nói chung có những công trình nghiên cứu khoa học nhƣ sau: Vị trí và bƣớc đầu định hƣớng nội dung, biện pháp GDMT ở bậc tiểu học ở Việt Nam của tác giả Phạm Đình Thái; Một số biện pháp nâng cao chất lƣợng GDMT cho học sinh tiểu học của tác giả Nguyễn Thị Vân Hƣơng; GDMT cho học sinh tiểu học qua hoạt động ngoài giờ lên lớp của tác giả Huỳnh Thị Thu Hằng.
Các công trình trên đã làm rõ nội dung và mục tiêu GDMT cho học sinh tiểu học, trong đó trình bày cụ thể các mục tiêu và nội dung GDMT cho học sinh. Các công trình cũng đã xác định phƣơng pháp dạy học, hình thức chung khi tổ chức các hoạt động nhằm GDMT cho học sinh tiểu học đạt hiệu quả cao. -GDMT thông qua môn học có những công trình nghiên cứu nhƣ: xác định các hình thức tổ chức và phƣơng pháp GDMT qua môn Địa lý ở trƣờng phổ thông cơ sở Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng; GDMT qua dạy sinh thái học lớp 11 phổ thông trung học của tác giả Dƣơng Tiến Sỹ; thực hiện GDMT cho học sinh tiểu học thông qua tìm hiểu tự nhiên và xã hội của tác giả Nguyễn Hồng Ngọc. Các công trình xác định phƣơng pháp và hình thức dạy học cụ thể đối với từng môn học, từng bài học có nội dung GDMT.