CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TÍCH HỢP GIÁO DỤC TUẦN HOÀN RÁC THẢI NHỰA VÀO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG BẬC TIỂU HỌC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cấp tiểu học Ở Việt Nam, Bộ GD&ĐT đang thực hiện lộ trình áp dụng Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 thay cho Chương trình giáo dục phổ thông 2006 cho cấp tiểu học như sau: Năm học 2020-2021 đối với lớp 1; năm học 2021-2022 đối với lớp 2; năm học 2022-2023 đối với lớp 3; năm học 2023-2024 đối với lớp 4; năm học 2024-2025 đối với lớp 5. Hoạt động giáo dục ở bậc tiểu học gồm các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc (hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp); và các môn học tự chọn.
Giáo dục môi trường Các nghiên cứu trên thế giới: Trên thế giới, vào khoảng trước năm 1960, lĩnh vực gần gũi nhất với giáo dục môi trường là các nghiên cứu thiên nhiên, nghiên cứu nông thôn và điều tra hiện trường. Năm 1972, tại hội nghị toàn cầu lần thứ nhất về môi trường được tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển), khái niệm giáo dục môi trường được chính thức ra đời. Sau hội nghị Stockholm 1972, một số hội nghị quốc tế khác về giáo dục môi trường đã được tổ chức, trong đó có hội nghị ở Belgrade năm 1975. Tại đây, định nghĩa đầu tiên về giáo dục môi trường được đề xuất.
Vào năm 1977, hội nghị quốc tế về Giáo dục môi trường của Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisi đã đưa ra khái niệm: “Giáo dục môi trường có mục đích làm cho cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường”. Và đến năm 1978, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về giáo dục môi trường như sau: “Giáo dục môi trường được định nghĩa 7 là giáo dục giúp các cá nhân hiểu biết hơn về môi trường của họ và phát triển các kỹ năng và hành vi có trách nhiệm với môi trường để họ có thể cải thiện chất lượng môi trường”. Năm 1987, tại Hội nghị về giáo dục môi trường ở Moscow do UNEP và UNESCO đồng tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của giáo dục môi trường: “Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mối nguy cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới. Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ.
Do đó, giáo dục môi trường là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người có được sự hiểu biết về môi trường”. Hiệu quả của việc giáo dục môi trường sẽ được thấy rõ hơn qua nghiên cứu của Gifford và Nilsson (2014). Bài nghiên cứu chỉ ra việc đưa ra những lựa chọn sáng suốt vì môi trường sẽ khó khăn nếu một người không có kiến thức. Khi có được hiểu biết, kiến thức về môi trường nói chung, về rác thải nhựa nói riêng, con người sẽ có những hành động và lựa chọn sáng suốt hơn trong cuộc sống.
Tương tự như vậy, nghiên cứu của Scott và Willits (1994) cũng đã chỉ ra rằng một người có trình độ học vấn càng cao thì càng có khả năng cao hơn trong việc thực hiện các hành vi có trách nhiệm với môi trường. Điều này cũng được minh chứng trong nghiên cứu của Vicente-Molina và cộng sự (2013): Ước tính đối với Tây Ban Nha và Hoa Kỳ (Mỹ) thì kiến thức về môi trường tăng 1% sẽ làm tăng 0,40% các hành vi ủng hộ môi trường. Những thay đổi tích cực hơn trong hành động, hành vi của học sinh sau khi được giáo dục môi trường đã được thể hiện trong nghiên cứu của Siegmar Otto and Pamela Pensini (2017), nghiên cứu đánh giá hiệu quả của việc tham gia giáo dục môi trường dựa vào thiên nhiên ở học sinh từ lớp 4 đến lớp 6. Đúng như mong đợi, việc tăng cường tham gia vào giáo dục môi trường dựa vào thiên nhiên góp phần hình thành hành vi sinh thái tốt hơn.
Từ những thay đổi tích cực trong hành vi của lứa tuổi học sinh tiểu học sau 8 khi được giáo dục môi trường, việc đưa giáo dục môi trường vào chương trình giảng dạy trong trường học không còn quá mới mẻ. Và điều này cũng được công nhận trong nghiên cứu mới đây của nhóm tác giả Soares J. Các nghiên cứu ở Việt Nam: Trong nhiều năm qua, vấn đề giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường đã được Đảng, Nhà nước và các bộ ban ngành quan tâm. Việc triển khai các văn bản chỉ đạo, tổ chức dạy học các nội dung có liên quan đến giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường đã thực sự sâu rộng trong nhân dân và học sinh.
Trong giáo dục và đào tạo, ở cấp tiểu học, Bộ GD&ĐT đã xây dựng bộ tài liệu giáo dục bảo vệ môi trường qua các môn học: Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Lịch sử và Địa lý, Mỹ thuật và Hoạt động giáo dục trải nghiệm (Bộ GD&ĐT, 2008). Tài liệu nhằm tập huấn, bồi dưỡng cho giáo viên về mục tiêu, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học, phương pháp và hình thức dạy học lồng ghép, tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học, cách khai thác nội dung và soạn thảo để dạy học lồng ghép, tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học (Võ Trung Minh, 2015). Nghiên cứu mang tên“Giáo dục nâng cao nhận thức về môi trường cho học sinh ở một số trường tiểu học thuộc quận Bình Thạnh và huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh” cho thấy rằng sau khi được giảng dạy về bảo vệ môi trường thì ý thức bảo vệ môi trường của các em cũng được nâng cao và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học cũng là một giải pháp tiếp cận mới trong việc giải quyết vấn đề về môi trường bền vững (Quách Văn Toàn Em và Nguyễn Thanh Thảo, 2012). Kết quả tích cực sau thực nghiệm đưa giáo dục môi trường vào chương trình giáo dục tiểu học cũng được thể hiện trong kết quả nghiên cứu của mô hình dạy học tích hợp giáo dục môi trường vào môn học bắt buộc trong chương trình phổ thông cấp tiểu học mang tên “Dạy học tích hợp nội dung giáo dục môi trường trong môn 9 Lịch sử - Địa lí lớp 4 tại trường tiểu học Trần Quốc Toản thành phố Cần Thơ” của tác giả Lê Ngọc Hóa và Huỳnh Thị Hồng Loan (2015).
Kết quả điều tra trước thực nghiệm cho thấy mặc dù đất, nước, động vật, thực vật và các nguồn năng lượng là những thành phần dễ nhận thấy của môi trường nhưng có nhiều học sinh vẫn nhận diện sai nhưng sau thực nghiệm, kết quả điều tra đã có những thay đổi đáng kể. Cùng sự thay đổi hiểu biết của học sinh về các thành phần của môi trường thì mức độ nhận thức của các em về tác nhân gây ô nhiễm cũng thay đổi tích cực hơn. Giáo dục trải nghiệm Các nghiên cứu trên thế giới: Tư tưởng giáo dục về học qua trải nghiệm (experiential education) đã xuất hiện sơ khai từ thời cổ đại, song nó chỉ thực sự phát triển và trở thành một tư tưởng giáo dục chính thống và phát triển thành học thuyết khi có những công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học, giáo dục học nổi tiếng trên thế giới. Từ cuối thế kỉ XIX, xuất hiện mô hình dạy học trải nghiệm đầu tiên trên thế giới là mô hình về nghiên cứu ứng dụng và đào tạo thực nghiệm của nhà tâm lí học Kurt Lewin (Dương Giáng Thiên Hương, 2017).
Đối với các nước có nền giáo dục phát triển, đặc biệt là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực, hoạt động trải nghiệm sáng tạo được quan tâm và triển khai dưới nhiều góc độ. Trong khu vực châu Á, từ năm 1973, học tập trải nghiệm đã được Hồng Kông áp dụng thông qua việc dạy học qua hoạt động tham quan, dã ngoại. Tư tưởng này tiếp tục phát triển ở các nước châu Á khác như Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc. Dạy học trải nghiệm sáng tạo có một bước tiến quan trọng hơn khi vào năm 2002, chương trình “Dạy học vì một tương lai bền vững” đã được UNESCO thông qua.
Trong chương trình này, học qua trải nghiệm sáng tạo gắn lý thuyết với thực tiễn đã được chú trọng. Lev Vygotsky (1896 - 1934), nhà tâm lý học người Nga, đã viết một số bài báo và một số sách về tâm lý học. Một trong số các nghiên cứu của Vygotsky về việc trẻ em giải quyết những vấn đề chúng gặp phải vượt lên trên mức độ phát triển 10 của chúng như thế nào đã đưa ông đến chỗ sáng tạo ra lý thuyết về “Vùng phát triển gần” (the Zone of Proximal Development) hay còn được gọi là “Vùng cận phát triển”. “Vùng cận phát triển” chính là khái niệm chỉ khu vực kinh nghiệm của cá nhân nằm giữa trình độ phát triển tiềm tàng (ở dạng tiềm năng) được đặc trưng bằng năng lực giải quyết vấn đề có sự hỗ trợ từ bên ngoài (ở quá khứ) và trình độ phát triển hiện tại (thành tựu mới đạt được) có đặc trưng là năng lực giải quyết vấn đề độc lập.
Nội dung của vùng cận phát triển chính là những giá trị và kinh nghiệm thường trực ở cá nhân. Mỗi cá nhân do trải nghiệm, học tập và tố chất di truyền đều có kinh nghiệm nền tảng khác nhau, nó quy định ở mức tương đối cho tiềm năng của cá nhân. Khi tương tác với môi trường (khi giao tiếp, học tập, làm việc,.), tiềm năng đó vốn từ kinh nghiệm nền tảng được huy động ra, thể hiện rõ và được định hướng vào nhiệm vụ một cách tập trung, coi như đó là kinh nghiệm thường trực lúc đó.