Mở đầu về điện tử học X Chuyên đề 11.3 Vật lí nhiệt X Khí lí tưởng X Trường từ (Từ trường) X Dòng điện xoay chiều X Chuyên đề 12.1 Vật lí hạt nhân và phóng xạ X 10 Một số ứng dụng vật lí trong chẩn đoán X Chuyên đề 12.2 y học Vật lí lượng tử X Chuyên đề 12.3 Phần nội dung và yêu cầu cần đạt ở từng lớp nêu rõ các yêu cầu cần đạt cho mỗi chủ đề. Một số yêu cầu cần đạt trong phần này bao hàm gợi ý cách thực hiện để đạt được yêu cầu cần đạt đó. Nội dung kiến thức của chương trình hiện hành được kế thừa trong hầu hết các chủ đề dạy học trong chương trình mới. Tuy nhiên, mạch nội dung cũng như cách tiếp cận một số khái niệm được thực hiện qua việc tiếp thu những tiến bộ trong chương trình giáo dục phổ thông ở các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới.
Khái niệm và các đặc trưng về giáo dục bảo vệ môi trường 1. Khái niệm giáo dục bảo vệ môi trường Giáo dục bảo vệ môi trường GDBVMT “là quá trình nhận thức ra giá trị và sáng tỏ các quan điểm, phát triển các kỹ năng và thái độ cần thiết để hiểu và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người, môi trường văn hóa và môi trường tự nhiên bao quanh. GDMT đòi hỏi thực hành (áp dụng thực tiễn) trong việc ra quyết định và tự xây dựng quy tắc hành vi về các vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường ”. Giáo dục bảo vệ môi trường nhằm giáo dục cho học sinh những kiến thức, hiểu biết về môi trường, những kỹ năng sống và làm việc trong một môi trường phát triển bền vững.
Giáo dục Môi trường là một phương pháp luận trong đó mọi người làm quen với môi trường xung quanh và đảm bảo học tập, khả năng, giá trị, kinh nghiệm và niềm đam mê, tất cả sẽ cho phép họ hành động – riêng lẻ và tổng hợp – để chăm lo cho hiện tại và tương lai vấn đề môi trường.Nó là nghiên cứu về các mối quan hệ và tương tác giữa các hệ thống tự nhiên và con người. Tóm lại, giáo dục môi trường được cung cấp để mọi người có thể hiểu biết hơn về thế giới xung quanh và biết cách chăm sóc nó đúng cách để thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Giáo dục môi trường là một quá trình cho phép các cá nhân khám phá các vấn đề môi trường, tham gia giải quyết vấn đề và thực hiện các hành động để cải thiện môi 11 trường. Kết quả là, các cá nhân phát triển sự hiểu biết sâu sắc hơn về các vấn đề môi trường và có kỹ năng để đưa ra các quyết định sáng suốt và có trách nhiệm.
Giáo dục môi trường là một lĩnh vực phức tạp và nó bao gồm nhiều chủ đề khác nhau có liên quan đến môi trường. Nó thậm chí có một số khía cạnh của kỹ thuật trong đó, có nghĩa là một người thậm chí có thể bắt đầu hiểu cách họ có thể đóng vai trò như thế nào trong kỹ thuật môi trường. Đặc trưng và nội dung của giáo dục môi trường * Đặc trưng: Giáo dục bảo vệ môi trường được phân chia thành các bộ phận phù hợp với trình độ nhận thức và tính chất đặc trưng của cương vị công tác như: Giáo dục môi trường cho cộng đồng còn gọi là nâng cao nhận thức về môi trường cho cộng đồng được thực hiện chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các đợt tập huấn ngắn hạn, các hoạt động văn hóa, truyền thông và các cuộc vận động quần chúng rộng rãi. Giáo dục môi trường cho các nhà quản lý các cấp, các cán bộ ra quyết định được thực hiện bằng nhiều biện pháp phù hợp.
Giáo dục môi trường trong hệ thống giáo dục và đào tạo ở các trường từ các trường mẫu giáo đến các trường cao đẳng và đại học. Đào tạo nhân lực chuyên môn về môi trường, bao gồm công nhân lành nghề, kỹ thuật viên, kỹ sư, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy. Như vậy, rõ ràng công tác đào tạo và nâng cao nhận thức môi trường cho cộng đồng đều là những bộ phận vô cùng quan trọng không thể thiếu trong giáo dục môi trường, thực hiện những mục tiêu chiến lược của giáo dục môi trường. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng, giáo dục môi trường thường được thực hiện theo 3 cách tiếp cận sau đây: Giáo dục về môi trường: xem môi trường là một đối tượng khoa học, người dạy truyền đạt cho người học các kiến thức của bộ môn khoa học về môi trường, cũng như phương pháp nghiên cứu về đối tượng đó.
Cụ thể là: 12 + Cung cấp những hiểu biết về hệ thống tự nhiên và hoạt động của nó; + Cung cấp những hiểu biết tác động của con người tới môi trường. Giáo dục trong môi trường: xem môi trường thiên nhiên hoặc nhân tạo như một địa bàn, một phương tiện để giảng dạy, học tập, nghiên cứu. Với cách tiếp cận này, môi trường sẽ trở thành “phòng thí nghiệm thực tế” đa dạng, sinh động cho người dạy và người học. Xét về hiệu quả học tập kiến thức, kỹ năng, nghiên cứu có thể hiệu quả rất cao.
Giáo dục vì môi trường: truyền đạt kiến thức về bản chất, đặc trưng của môi trường hình thành thái độ, ứng xử, ý thức trách nhiệm, quan niệm giá trị nhân cách, đạo đức đúng đắn về môi trường, cung cấp tri thức kỹ năng, phương pháp cần thiết cho những quyết định, hành động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Giáo dục môi trường có hiệu quả nhất khi kết hợp cả 3 cách tiếp cận trên, tức là giáo dục kiến thức về môi trường trong môi trường cụ thể nhằm hướng đối tượng giáo dục có hành động vì môi trường. Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh 1. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề của học sinh Theo Tổ chức các nước Kinh tế phát triển OECD, GQVĐ là NL của một cá nhân tham gia vào quá trình nhận thức để hiểu và giải quyết các tình huống có vấn đề mà phương pháp của giải pháp đó không phải ngay lập tức nhìn thấy rõ ràng.
Nó bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào các tình huống tương tự để đạt được tiềm năng của mình như một công dân có tính xây dựng và biết suy nghĩ [19] NLGQVĐ là năng lực hoạt động trí tuệ của con người trước những vấn đề những tình huống cụ thể có mục tiêu và có tính định hướng cao đòi hỏi phải huy động khả năng tư duy và sáng tạo để tìm ra lời giải của vấn đề [12] Theo lý thuyết thông tin, NLGQVĐ được tiếp cận từ quá trình xử lí thông tin, nhấn mạnh tới suy nghĩ của người giải quyết vấn đề hay “hệ thống xử lí thông tin”, vấn đề và không gian vấn đề thì NLGQVĐ thể hiện khả năng của cá nhân làm việc độc lập hay làm việc nhóm để tư duy, suy nghĩ về tình huống vấn đề và tìm kiếm, thực hiện giải pháp cho vấn đề đó. Như vậy, NLGQVĐ là khả năng cá13nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, cảm xúc để giải quyết những tình huống có vấn đề mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường 1. Cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề của học sinh NLGQVĐ của học sinh được thể hiện thông qua những hoạt động trong quá trình giải quyết vấn đề. Phân tích cấu trúc của NLGQVĐ qua tiến trình giải quyết vấn đề có thể thấy có 4 thành tố sau [11]: – Tìm hiểu vấn đề: Nhận biết, phát hiện vấn đề, xác định được những thông tin đã cho, thông tin cần tìm.
Theo Whimbey & Lockhead: Người giải quyết vấn đề tốt là người biết tìm hiểu các sự kiện và mối quan hệ trong vấn đề một cách đầy đủ, chính xác; người giải quyết vấn đề không tốt thường không nhận thấy được tầm quan trọng của việc đọc kĩ, hiểu chính xác tất cả các thông tin nên dễ hiểu sai, dẫn đến thất bại trong quá trình giải quyết vấn đề. – Đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề: Phân tích, sắp xếp, kết nối các thông tin với kiến thức đã biết và đưa ra giải pháp, lựa chọn giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề. Năng lực này bao gồm mô tả vấn đề bằng ngôn ngữ vật lí, thiết lập mối quan hệ giữa các đại lượng để giải quyết tình huống. – Thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề: Thực hiện giải pháp, điều chỉnh giải pháp cho phù hợp với thực tiễn khi có sự thay đổi.
– Đánh giá và phản ánh giải pháp, xây dựng vấn đề mới: Đánh giá giải pháp đã thực hiện và vấn đề đặt ra; phản ánh giá trị của giải pháp, xác nhận những kiến thức và kinh nghiệm. Như vậy, NLGQVĐ gồm 4 thành tố, mỗi thành tố bao gồm một số hành vi khi học sinh làm việc độc lập hoặc khi làm việc nhóm trong quá trình giải quyết vấn đề. Các biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề của học sinh Căn cứ vào số lượng và độ khó của từng chỉ số hành vi năng lực, tác giả Đỗ Hương Trà [7] đã xác định 3 mức độ biểu hiện của các chỉ số hành vi của năng lực GQVĐ của học sinh trong học tập, thể hiện qua bảng 1. Các biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề của học sinh Năng lực Chỉ số Mức độ biểu hiện thành tố hành vi 1.
Tìm hiểu M1: Quan sát, mô tả được các quá trình, hiện tượng 1. Tìm hiểu tình huống vấn trong tình huống để làm rõ vấn đề cần giải quyết vấn đề đề 14 M2: Giải thích thông tin đã cho, mục tiêu cuối cùng thực hiện để làm rõ vấn đề cần giải quyết M3: Phân tích, giải thích thông tin đã cho, mục tiêu cần thực hiện và phát hiện vấn đề cần giải quyết 1. Phát hiện M1: Từ các thông tin đúng và đủ về quá trình, hiện vấn đề cần tượng, trình bày được một số câu hỏi riêng lẻ nghiên cứu M2: Từ các thông tin đúng và đủ về quá trình, hiện tượng, trình bày được các câu hỏi liên quan đến vấn đề cần giải quyết M3: Từ các thông tin đúng và đủ về quá trình, hiện tượng, trình bày được câu hỏi liên quan đến vấn đề và xác định được vấn đề cần giải quyết 1.3 Phát biểu vấn M1: Sử dụng được ít nhất một phương thức (văn đề bản, hình vẽ, biểu bảng, lời nói,.