CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUÒN NHÂN LỰC VÀ PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC TRONG GIAO DỤC 1. Một số khái iệm về3 nguồnnoudn nhânahi, lực 1. Về nguồn nhân lực Thuật ngữ nguồn nhân lực xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao. Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực”.
Nguồn nhân lực có thể hiểu bao gồm các cá thể có khả năng lao động trong xã hội (Nguyễn, 2005). Ngoài ra, Nguồn nhân lực cũng được hiểu như một cấu thành của tô chức, có trách nhiệm tuyển dụng, đảo tạo và tạo ra các giá trị tốt đẹp cho tổ chức Ngoài ra, một số khái niệm khác cho rằng nguồn nhân lực là lượng lượng lao động trong xã hội, có khả năng tạo ra của cải vật chất, đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Nguồn nhân lực cũng là sự biểu hiện khả năng của con người, đóng góp, phát huy tối đa nguồn lực từ nội tại bản thân đề tạo ra những giá trị vật chất, tỉnh thần tích cực trong xã hội. Đối với các tổ chức, nguồn nhân lực là lực lượng lao động của từng tô chức, là số người trong danh sách của tô chức và được trả công theo năng suất lao động quy định.
Hiện nay, quy định lao động hoàn toàn có thể được thuê ngoài theo Bộ Luật Lao động (2012), vì vậy, nguồn nhân lực có ý nghĩa rộng hơn việc giới hạn các nhân sự có trong tô chức và doanh nghiệp. Trong bối cảnh xã hội ngày càng thay đổi, nhiều ngành nghề, lĩnh vực phát triển, mở rộng quy mô nhanh chóng khiến các định nghĩa, quan niệm về nguồn nhân lực cũng dần thay đôi đề phù hợp với bối cảnh thực tiễn. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực của một tô chức có thể hiểu là bao gồm tat ca những người lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khoẻ và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tô chức nếu được động. viên, khuyến khích phù hợp.
Đây có thể xem là một định nghĩa tương đối đầy đủ và toàn diện. Nhưng khái niệm này vẫn chưa nêu rõ ưu điểm nỗi trội của nguồn nhân lực so với các nguồn lực khác trong doanh nghiệp. 'Vì vậy, khái niệm nguồn nhân lực của một tô chức được hiều là năng lực công tác của các nhân sự liên quan đến đến tô chức đó, trong đó mỗi nhân sự thể hiện khả năng của bản thân trong quá trình xử lý công việc, không ngừng học tập, trau dồi, sáng tạo đề hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, từ đó tự nâng cao vai trò của bản thân và tạo ra những giá trị hữu ích cho tổ chức. Về phát triển nguồn nhân lực 1.
Khái quát về phát triển nguôn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, tỈ chí L, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự. phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển, nâng cao các phẩm chất vốn có của mỗi cá nhân như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thé luc., lam cơ sở thúc. đây nội lực bên trong để trở thành những lao động có chuyên môn và phim chat mới đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hay nói cách khác, phát triển nguồn nhân lực là quá trình cải thiện lực lượng lao động của bạn bằng cách đảo tạo thêm và phát triển nghề nghiệp cho từng nhóm của bạn từ đó tạo ra sự thay đổi tích cực cho tổ chức để hoạt động ngày một hiệu quả hơn.
Phát triển nguồn nhân lực thường là một quá trình nhiều tầng đòi hỏi một số bước tập trung, bao gồm việc kiểm tra, đánh giá hiệu quả nguồn lực, xác định điểm mạnh và thách thức đối với nhân sự trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ, phương án, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc. Phát triển nguồn nhân lực có thể được phân loại làm hai hình thức phát triển về hình thức và phát triển về nội dung. Đối với phát triển nguồn nhân lực theo hướng thể hiện ở hình thái bên ngoài, các tổ chức thường tập trung vào các hoạt động liên quan đến việc mở rộng quy mô nguồn nhân lực. xây dựng và phát triển cơ cấu nhân sự.
Trong khi đó, phát triển về nội dung lại tập trung hơn về khía cạnh đảo tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn cũng như cải thiện tỉnh thân làm việc của nhân viên. 10 Hoạt động phát triển nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thê hiện ở việc nâng cao chất lượng quản lý nguồn nhân lực sẽ tác động tích cực đến hiệu quả của công tác phát triển nguồn nhân lực. Trong khi phát triển nguồn nhân lực tập trung chủ yếu vào các khía cạnh nhân viên, tổ chức và phát triển nghề nghiệp thì quản trị nguồn nhân lực lại tập trung vào các giải pháp cụ thể hơn nhằm cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. Hoạt động quản lý nguồn nhân lực thường liên quan đến việc lập kế hoạch hoá thực hiện, tổ chức triển khai, chỉ đạo và kiểm tra giám sát.
Tuy nhiên mục đích của hai hoạt động này có tính chất tương ding, cùng đề phát triển nguồn nhân lực nói chung của một tổ chức. Quá trình phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi một tổ chức cắn nhiều thời gian để triển khai thực hiện. Có nhiều nội dung phát triển nguồn nhân lực mà một tổ chức có thể thực hiện, nhưng thường được triển khai với các hoạt động sau: Thứ nhất, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng cho nhân viên dé nâng cao trinh độ chuyên môn, kỳ thuật: Đào tạo luôn được coi như là một trong những hoạt động ưu tiên hàng đầu trong phát triên nguồn nhân lực. Khi xã hội ngày càng phát triển, doanh nghiệp, tổ chức ngày cảng mở rộng quy mô đòi hỏi mỗi nhân viên cần phải nâng cao.
năng lực bản thân biểu hiện ở việc cải thiện khả năng học hỏi, lý luận, kỹ năng giao. tiếp, xử lý nhanh vấn đề (Carnevale & Smith, 2013). Đào tạo là quá trình cung cấp kiến thức nền tảng đề đáp ứng các công việc hiện tại, cung cấp các kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức đặc thù để đảm đương các công việc trong tương lai, các chức vụ quản lý, kinh doanh và các hoạt động khác là phát triển nguồn nhân lực. Ngoài ra, việc đào tạo cụ thể của một tô chức sẽ mang những nết đặc thù, riêng biệt của tổ chức đó, tạo nên dấu ấn riêng đối với những nhân viên tại tổ chức, tạo nên lợi thế cạnh tranh đối với những chủ thế khác trong nền kinh tế (Sheehan, 2014).
Chính vì vậy, bắt kỳ tổ chức nào cũng phải coi trọng công tác đảo tạo và ngược lại, công tác đào tạo phải phát huy được vai trò là phát triển nguồn nhân lực của một tổ chức. Thứ hai, thường xuyên đổi mới, cải tiễn phương pháp quản lý và cơ cấu nguồn nhân lực: Xây dựng quy chế làm việc, lao động văn minh, lịch sự, nề nếp là tạo điều kiện đề nhân sự chú tâm vào công việc, có đủ điều kiện về mặt tinh thần đề cống hiến 1I và phát triển bản thân. Điều này chính là phát triển nguồn nhân lực của bắt kỳ tổ chức. Công tác cơ cấu nguồn nhân lực tức là tổ chức, vận hành, sắp xếp nguồn nhân lực hợp lý và xây dựng quy chế phối hợp, làm việc đảm bảo hoạt động công việc được vận hành thông suốt.
Thông thường, cơ cấu nguồn nhân lực thường gắn liền với mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của tô chức, theo đó đòi hỏi nhân sự tuân theo. những tiêu chuân đề đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc của nhân sự. Quản lý cơ cấu nguồn nhân lực cũng phụ thuộc vào yếu tố lãnh đạo, chỉ đạo của người đứng đầu tô chức. Vì vậy, hiệu quả của nguồn nhân lực sẽ chịu tác động tương đối khi có các quyết định mới về cơ cất ép bộ máy làm việc.
Thứ ba, tạo động lực phát triển cho nhân viên: Nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật và năng lực làm việc của người lao động đề có thê thăng tiến lên vị trí cao. hơn, làm công việc phức tạp hơn, sự nghiệp của người lao động phát triển đó cũng chính là phát triển của tổ chức. Ngoài ra, các tổ chức, doanh nghiệp tổ chức các hoạt động gắn kết nhân viên đề gia tăng sự hài lòng, niềm yêu thích công việc sẽ mang lại kết quả làm việc tích cực hơn (Kim và cộng sự, 2015) Thứ tu, chế độ phúc lợi thỏa đáng: Chễ độ phúc lợi bao gồm lương, thưởng, các hoạt động chăm sóc sức khỏe. Các doanh nghiệp được hưởng lợi từ việc trả công cho.
nhân viên theo năng suất lao động bởi họ sẽ tích cực làm việc hơn để gia tăng thu nhập, từ đó cai thiện tình hình hoạt động của tổ chức (Chapman, 2018). Bên cạnh đó, sức khỏe vừa là mục đích của phát triển, đồng thời nó cũng là điều kiện của sự phát triển. Sức khỏe là sự phát triển hài hòa của con người cả về vật chất và tỉnh thần, đó là sức khỏe cơ thể và sức khỏe tỉnh thần. Sức khỏe còn thể hiện được một phần khả năng của nguồn lực bởi đây là yếu tố đầu vào đề thực hiện các công việc, nhiệm vụ dé dan hoàn thiện năng lực cá nhân.
Vai trò của phát triển nguồn nhân lực Đối với nền kinh tế, nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của một quốc gia, là cơ sở để phát triển những tiềm năng sẵn có của quốc gia 12 đó cả về kinh tế và xã hội. Đối với một quốc gia, nguồn nhân lực được thê hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau cũng như được vận dụng linh hoạt. Một quốc gia vận dụng. phát triển nguồn nhân lực thể hiện qua cách thức thực hiện các yếu tố vĩ mô của quốc.
gia đó, được thể hiện qua nhiều góc độ. Ví dụ, việc tận dụng nguồn nhân lực bù đấp sự thiếu hụt tài nguyên thiên nhiên. Nhiều quốc gia nghèo về tài nguyên thiên nhiên như Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore,.