CHƯƠNG 1 Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng để nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài và bố cục của nghiên cứu của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm nguồn nhân lực Theo hiệp hội quốc tế thì ‶nguồn nhân lực là tất cả các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước″. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người luôn được xem là một yếu tố tạo nên sự thành công của mọi tổ chức, quốc gia và vùng lãnh thổ, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định [Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2008].
Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định của doanh nghiệp [Trần Kim Dung, 2011]. Khái niệm ‶nguồn nhân lực″ được sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước Châu Á, và giờ đây khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan điểm mới về vai trò, vị trí của con người trong sự phát triển. Ở nước ta, khái niệm này được sử dụng rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay. Tùy theo quan điểm có các khái niệm khác nhau.
Theo nghĩa tương đối hẹp, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động. Do vậy, nó có thể lượng hóa được là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định, đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động hay còn gọi là lực lượng lao động. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội bên cạnh nguồn 7 lực vật chất, nguồn lực tài chính. Chính vì vậy, nguồn nhân lực được nghiên cứu trên giác độ số lượng và chất lượng.
Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô, tốc độ tăng và sự phân bố nguồn nhân lực theo khu vực, vùng lãnh thổ. Chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh về trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của người lao động. Tóm lại, trí tuệ, thể lực và đạo đức là những yếu tố quan trọng nhất, quyết định chất lượng và sức mạnh của nguồn nhân lực. Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Quản trị nguồn nhân lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau., và Doty [1996] khái niệm quản trị nguồn nhân lực như là một bộ các chính sách nhất quán bên trong và các phương pháp được thiết lập và áp dụng để đảm bảo nguồn lực con người của tổ chức đóng góp vào việc đạt được những mục tiêu của tổ chức.
Đối với Dittmer, P.R [2002] nhìn nhận quản trị nguồn nhân lực như là sự nhận thức của một cá nhân đối với mức độ áp dụng các chiến lược, các kế hoạch và các chương trình được sử dụng để thu hút, khuyến khích, phát triển những người giỏi để đáp ứng các mục tiêu của tổ chức. Còn theo Schuler & Jackson [1987] định nghĩa quản trị nguồn nhân lực là một hệ thống thu hút, phát triển, thúc đẩy và giữ lại nhân viên để đảm bảo việc thực hiện hiệu quả và sự sống còn của các tổ chức và các thành viên. Bên cạnh đó, Wright và cộng sự [1994] cho quản trị nguồn nhân lực là các hoạt động có tổ chức hướng đến việc quản lý những nguồn lực về con người nhằm đảm bảo những nguồn lực này đang được sử dụng để hoàn thành các mục tiêu của tổ chức. Ngoài ra, theo Minbaeva [2005] thì quản trị nguồn nhân lực là một tập hợp thực hành được sử dụng bởi các tổ chức để quản lý nguồn nhân lực thông qua các điều kiện phát triển năng lực.
Từ những khái niệm nêu trên có thể thấy quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các quan điểm, chính sách và hoạt động thực tiễn sử dụng trong quản trị con người của một tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu tối ưu cho cả tổ chức và nhân viên. Quản trị nguồn nhân lực có thể được xem như các khía cạnh của quản trị nguồn 8 nhân lực được các nhà quản trị cân nhắc hoàn thiện và ứng dụng linh hoạt vào đơn vị của mình. Vì mỗi cơ quan, đơn vị có những đặc điểm, chiến lược và mục tiêu riêng vì vậy mà quản trị nguồn nhân lực ở mỗi đơn vị có những triết lý và quan điểm khác nhau. Tùy vào đặc điểm thực tế của mỗi đơn vị mà cơ quan, đơn vị vận dụng linh hoạt các yếu tố trong quản trị nguồn nhân lực.
Tóm lại, quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các quan điểm, chính sách và hoạt động thực tiễn sử dụng trong quản trị con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức và nhân viên. Thực tiễn quản trị nguồn nhân lực là các phương pháp cụ thể, các chính sách để thu hút, phát triển khuyến khích phát huy trình độ, năng lực và khả nảng của nhân viên để thực hiện có hiệu quả mục tiêu nhiệm vụ của tổ chức. Các nhân tố của quản trị nguồn nhân lực Saira Hassan [2016] xác định thực tiễn quản trị nguồn nhân lực gồm 05 yếu tố: [1] Đào tạo và phát triển; [2] Đánh giá hiệu quả công việc; [3] Kế hoạch công việc; [4] Sự tham gia của người lao động; [5] Hệ thống phụ cấp. Hafsa Shaukat, Namrah Ashraf và Shazad Ghafoor [2015] đã chứng minh thực tiễn quản trị nguồn nhân lực bao gồm: Tuyển dụng; đào tạo; phát triển nghề nghiệp; lương bổng; đánh giá hiệu quả công việc; định danh công việc và sự đóng góp của người lao động đến năng suất của tổ chức.
Momena Akhter và cộng sự [2013] đã chứng minh thực tiễn quản trị nguồn nhân lực gồm: Đào tạo và phát triển; đánh giá kết quả làm việc; thù lao, tiền thưởng; nghệ thuật lãnh đạo. Shanthi Nadarajah và cộng sự [2012] đã chứng minh có 4 yếu tố của thực tiễn quản trị nguồn nhân lực gồm: [1] Công việc đảm bảo; [2] đào tạo và phát triển; [3] phụ cấp; [4] tuyển dụng có chọn lọc. Nghiên cứu của Yaris và cộng sự [2011] thì thực tiễn quản trị nguồn nhân lực gồm có 3 yếu tố: [1] Tuyển dụng và lựa chọn; [2] đào tạo; [3] đánh giá hiệu quả làm việc. Zubair và Qureshi [2011] chứng minh thực tiễn quản trị nguồn nhân lực có 7 yếu tố: [1] Tuyển dụng; [2] đào tạo; [3] đánh giá kết quả làm việc; [4] hoạch định nghề nghiệp; [5] mức độ lương thưởng; [6] sự tham gia của nhân viên; [7] xác định công việc.
9 Qureshi và Muhammad I Ramay[2007] xác định thực tiễn quản trị nguồn nhân lực gồm 7 yếu tố: Tuyển dụng; đào tạo; hoạch định nghề nghiệp; cơ hội thăng tiến; lương thưởng; xác định công việc; thu hút nhân viên tham gia vào các hoạt động. Singh [2004] xác định thực tiễn quản trị nguồn nhân lực có 7 yếu tố: [1] Mô tả công việc; [2] Hệ thống đào tạo; [3] Hệ thống tuyển chọn; [4] Hệ thống phát triển nghề nghiệp; [5] Hệ thống đánh giá kết quả công việc; [6] Hệ thống trả lương, thưởng xứng đáng; [7] Sự tham gia của nhân viên. Pfeffer [1998] xác định có 7 yếu tố thực tiễn quản trị nguồn nhân lực: [1] Bảo đảm ổn định trong công việc; [2] tuyển chọn nhân viên mới; [3] đội tự quản và phi tập trung trong việc ra quyết định; [4] mức đãi ngộ [lương thưởng] tương đối cao theo kết quả; [5] mở rộng đào tạo; [6] giảm khoảng cách về chức vụ và các rào cản như giảm khoảng cách về tiền lương; [7] mở rộng việc chia sẻ thông tin và kết quả tài chính trong tổ chức. Trần Kim Dung [2011] đã đề nghị thực tiễn quản trị nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp Việt Nam có 12 thành phần, bên cạnh 6 thành phần căn bản là các hoạt động chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực: [1] Xác định nhiệm vụ công việc; [2] thu hút, tuyển chọn; [3] đào tạo; [4] đánh giá kết quả làm việc của nhân viên; [5] chế độ đãi ngộ; [6] phát triển nghề nghiệp còn có 6 thành phần khác gồm: [1] Thống kê nhân sự; [2] thực hiện quy định Luật pháp và tạo môi trường; [3] đổi mới; [4] thông tin; [5] tham gia của nhân viên vào quản lý và [6] điều hành chung.
Dựa trên các tài liệu nghiên cứu trước, có thể thấy thực tiễn quản trị nguồn nhân lực bao gồm nhiều yếu tố thành phần. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào các yếu tố của thực tiễn quản trị nguồn nhân lực gồm: [1] Phân tích công việc; [2] tuyển dụng; [3] đào tạo; [4] đánh giá kết quả làm việc; [5] thù lao lao động và [6] tham gia của nhân viên. Phân tích công việc: Phân tích công việc là quá trình nghiên cứu nội dung công việc nhằm xác định điều kiện tiến hành, các nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn khi thực hiện công việc và các phẩm chất, kỹ năng nhân viên cần thiết phải có để thực hiện tốt công 10 việc. Xác định công việc có ý nghĩa quan trọng và là công cụ cơ bản nhất trong mỗi giai đoạn của quản trị nguồn nhân lực.
Thiếu nó năng suất lao động sẽ thấp, nhân viên dẫm chân lên công việc của nhau, không ai biết rõ trách nhiệm và quyền hạn của mình, lương bổng và thăng thưởng sẽ tùy tiện, việc đào tạo huấn luyện sẽ khó khăn [Trần Kim Dung, 2011]. Mục đích của xác định công việc là để trả lời các câu hỏi sau: Nhân viên thực hiện công việc gì? Khi nào công việc hoàn tất? Công việc được thực hiện ở đâu? Làm công việc đó như thế nào? Tại sao phải thực hiện công việc đó? Để thực hiện công việc đó cần phải hội tụ đủ những tiêu chuẩn nào? Phân tích công việc cung cấp cho nhà quản trị một bảng tóm tắt các nhiệm vụ và trách nhiệm của một công việc nào đó, mối tương quan của công việc đó với các công việc khác, kiến thức và kỹ năng cần thiết và các điều kiện làm việc [Trần Kim Dung, 2011].