CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HQC CUA GIANG VIEN TRUONG CAO DANG NGHE 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1 Nghiên cứu trong nước Về hoạt động và năng lực nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên (GV): Phát triển hoạt đông và năng lực NCKH cho GV kỹ thuật được một số tác giả đẻ cập đến như: Nguyễn Viết Sự (2006) [38]; Trần Khánh Đức [17] [18]. đã phân tích và làm rõ các khía cạnh vẻ hoạt động NCKH của GV các trường trong hệ thống sư phạm kỹ thuật, đồng thời cũng nêu lên những khó khăn, những bắt cập trong công tác đào tạo, dưỡng GV kỹ thuật và GVDN. Các tác giả quan tâm nhỉ đến các giải pháp nâng cao năng lực NCKH cho GV kỹ thuật và dạy nghề.
“Theo tác giả Hà Mạnh Hợp (2005) [23]: Đề cập đền các vần đề trong giáo dục nghề nghiệp và những định hướng nội dung cũng như các phương pháp NCKH trong giáo dục nghề nghiệp. “Theo tác giả Nguyễn Viết Sự (2006) [38]: Đề cập đến năng lực và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực NCKH cho GV các trường trong hệ thống sư phạm kỹ thuật Việt Nam. Trong báo cáo tổng kết đề tài, tác giả phân tích khái quát về hệ thống sư phạm kỹ thuật và hoạt động NCKH của GV trong hệ thống đó, đồng thời cũng nêu rõ các môi quan hệ chặt chẽ giữa hoạt động giảng dạy và NCKH, các chính sách về NCKH trong hệ thống sư phạm kỹ thuật và thực trạng hoạt động NCKH của GV các trường trong hệ thống sư phạm kỹ thuật Việt Nam. Từ đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực NCKH cho GV các trường trong hệ thống sư phạm kỹ thuật Việt Nam.
Ngoài ra còn nhiều tác giả khác có các tác phẩm đẻ cập đến phương pháp NCKH nói chung và NCKH giáo dục nói riêng như: Lưu Xuân Mới (2000) [33], Nguyễn Văn Lê (2005) [29]; Dương Thiệu Tống (2005) [45], Mai Ngọc Luông, Lý Minh Tiên (2007) [32], Vũ Cao Đàm (201 1) [12] (2004) [13]. VỀ quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên, một số tác giả đã nghiên cứu trong lĩnh vực như: Tác giả Hoàng Thị Nhị Hà (2009) [20], với tên luận án là: “Quản lý nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học sư phạm”; Tác giả Lê Yên Dung (2010) [I1], với tên luận án: *Mô hình quản lý hoạt động nghiên cứu Khoa hoc trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực"; Tác giả Nguyễn Phúc Châu (2008) [10], với đề tài NCKH cấp Bộ: “Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của các trường Cán bộ Quản lý giáo dục và dao tao”, mã số B2006-29. VỀ ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý đề tài NCKH cũng có các tác giả đã quan tâm nghiên cứu như: Tác giả Vương Thanh Hương, với để tài NCKH a Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý các nhỉ vu NCKH va công nghệ ở các trường đại học" [26]; Tác giả Lê Vân Anh, với đề tài NCKH cấp Bộ 'Đề xuất một số giải pháp ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động nghiên cứu KHÁ&CN ở một số cơ sở nghiên cứu" [1]; Tác giả Nguyễn Hữu Hùng [24], với bài viết: "Phát triển hoạt động Thông tìn KH&CN ở Việt Nam”. trong luận án tiến sỹ của mình, tác giả đã đưa ra năm giải pháp, trong đó có giải pháp: Xây đựng hệ thống phần mềm quản lý hoạt động khoa học và công nghệ.
Đây chính là ý tưởng đúng và có ý nghĩa trong việc điều chỉnh các yêu cầu nhập số liệu, yêu cầu truy xuất số liệu khi người quản lý muến thiết kế một phần mềm cụ thể nhằm quản lý NCKH tại các cơ sở bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục. 1 Nghiên cứu ngoài nước Các công trình nghiên cứu khác của một số tác giả trên thế giới đã đẻ cập đến hoạt động NCKH và quản lý hoạt động NCKH của GV các trường CĐ, ĐH được các nước trên thể giới quan tâm đầu tư và phát triển, é hiện ở các nước như sau: “Theo tác gid Rawlinson, D. Nghiên cứu khoa học se phạm ứng dụng trong lớp hoc Tallahassee, FL: Sở Giáo dục bang Florida đã có nhận định “Trong quá trình nghỉ cứu khoa học se phạm ứng dựng nhà giáo dục nghiên cứu khả năng học tập của học sinh trong mối liên hệ với phương pháp dạy học. Quá trình này cho pháp những người làm giáo dục hiểu rõ hơn về phương pháp sư phạm của mình và tiếp tục giám sát quá trình tiến bộ của học sinh".
Trong tác phẩm “Đánh giá phát triển chuyên môn” tác giả Guskey, T. (2000) [6], Thousand Oaks cho rằng “Ý tưởng về NCKH sư phạm ứng dụng là cách tốt nhất đề xác định và điều tra những vấn đề giáo dục tại chính nơi vấn đề đó xuất hiện: tại lớp học và trường học. Thông qua việc thực hiện NCKH sư phạm ứng dụng vào các bồi cảnh này và để những người đang hoạt động trong môi trường đó tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, các phát hiện sẽ được ứng dụng ngay lập. tức và vấn đề sẽ được giải quyết nhanh hơn”.
“Theo các tác giả khác việc bồi dưỡng cho GV, cán bộ quản lý về NCKH su phạm ứng dụng là một phần trong quá trình phát triển chuyên môn của GV, cán bộ quản lý giáo dục trong thế kỷ 21. Với NCKH sử phạm ứng dụng, GV, cán bộ quản lý giáo dục sẽ lĩnh hội các kỹ năng m: về tìm hiểu thông tin, giải quyết vấn đề, nhìn lại quá trình, giao tiếp và hợp tác trong giáo dục và đào tạo. Tác giả Lữ Đạt và Chu Mãn Sinh (2010) [16], trong tác phẩm “Cái cách giáo duc ở các nước phát triển ”,đã có những phân tích về các hoạt động NCKH của GV các trường CĐ, ĐH ở các nước trên thế giới được thể hiện qua nội dung sau: Ở Mỹ: Tại các trường Đại học, Cao đăng các GV, để trở thành học giả thì đầu tiên phải trở thành một người nghiên cứu và công bố các bài viết khoa học là thước đo chính của hoạt động NCKH. Lý luận có thể chỉ đạo thực tiễn, nhưng thực tiễn cũng có thẻ sản sinh ra lý luận.
Vì vậy, công tác giảng dạy tốt nhất có thể thay đổi được là từ nghiên cứu và thực tiễn. Xuất phát từ quan điểm này, việc tìm hiểu của GV càng có sức sống hơn và toàn diện hơn về trình độ học thuật (hay hoạt động NCKH). Vì vậy, mở rộng, phát triển việc phân loại nghiêm túc về giảng dạy, NCKH và phục vụ đã được xác định một cách linh hoạt hơn. Ngoài ra, sự đa dang hóa về quản lý hoạt động NCKH và năng lực NCKH của đội ngũ GV của các trường ĐH, CÐ được thể hiện ở các điểm: a) Tắt cả GV đều phải trở thành những nha GV day đủ tư cách và năng lực.
Mỗi GV đều phải thực hiện làm NCKH, nghiên cứu thảo luận nghiêm túc vấn đề tri thức và phải công bố kết quả nghiên cứu này với các đồng nghiệp. b) Sự nghiệp của đội ngũ GV phải 10 luôn giữ môi liên hệ và phát triển duy trì sức sống của ngành nghề. Vấn đẻ này xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay, “duy trì mối liên hệ” thông thường có nghĩa là phải triền khai chương trình nghiên cứu mới. định kỳ xuất bản báo cáo và sản phẩm NC chuyên ngành.
Khuyến khích các GV đọc tài liệu, tìm hiểu một cách đầy đủ mô hình và xu thế phát triển. Ở Nhật Bản: NCKH ở đại học, cao đẳng là một trong những chức năng của trường đại học, cao đẳng, đặc biệt là NCKH cơ bản và ứng dụng. Lâu nay, Nhật Bản coi trọng việc đào tạo một đội ngũ giỏi kỹ thuật chuyên ngành, dốc ức vào nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ. Vấn đẻ này rất có ý nghĩa đối với ngành khoa học tự nhiên, ngay cá vị các ngành khoa học xã hội và nhân văn cũng không thể coi nhẹ.
Trên cơ sở đầy mạnh NCKH, điều rất quan trọng là tìm hiểu sâu hơn nữa cơ chế hợp tác, phân công nhiệm vụ giữa các trường ĐH, CÐ và giới doanh nghiệp, các ban ngành chính phủ và các viện nghiên cứu. Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng chú trọng việc nâng cao trình độ đội ngũ GV: Để giải quyết tình trạng suy thoái, vấn đề nâng cao chất lượng dạy học, phát huy vai trò của GV, nâng cao trình độ dạy học của GV là rất quan trọng. Giáo viên cần yêu thương học sinh, có ý thức tự giác nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực dạy học thực tế. Muốn vậy, Hội đồng giáo dục cần nghiên cứu tổng hợp vẻ biện pháp.
nâng cao trình độ đội ngũ GV, đào tạo, sử dụng, bỗ túc và đánh giá đội ngũ GV. Ngoài ra, việc tăng cường NCKH trong giáo dục đại học, cao đẳng cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với việc đào tạo đội ngũ NCKH trẻ, triển khai nghiên cứu. cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Cần tăng cường trao đôi cán bộ NCKH, trao đôi thông tin tư liệu và nghiên cứu chung.
Ở Nhật Bản, có hoạt động trao đổi GV và cán bộ nghiên cứu thể hiện ở các điểm: 1) Coi trọng việc lưu học, bổ túc, nghiên cứu của GV, cán bộ nghiên cứu. Cần coi trọng việc bồi dưỡng ở nước ngoài của GV, cán bộ nghiên cứu, đặc biệt là đối với các GV trẻ và cán bộ nghiên cứu trẻ. Cần tạo cho họ jeu cơ hội lưu học, bổ túc, nghiên cứu, kiện to; viên dự hội nghị học thuật toàn cằu”. 2) Mở rộng phạm vi tiếp nhận, hoàn thiện thể chế tiếp nhận cán bộ nghiên cứu nước ngoài.
3) Mở rộng hoạt động trao đổi toàn "1 cầu. 4) Tăng cường hoạt động toàn cầu, trao đôi thông tin khoa học giữa các hội nghị khoa học. 5) Tăng cường giao lưu học thuật và hợp tác nghiên cứu toàn cầu. 6) 'Chắn hưng và tăng cường sự nghiệp giao lưu học thuật toàn cầu.
Ởmột số nước khác: Hiện nay một số nước trong khu vực Châu Á như: Trung Quốc, Singapore, Thái Lan.có tô chức bồi dưỡng cho đội ngũ GV về NCKH sư. phạm ứng dụng. Tại các nước này, NCKH sư phạm ứng dụng không chỉ là công việc của những nhà nghiên cứu giáo dục mà nó đã trở thành công việc thường xuyên của GV, Qua các công trình n cứu đã nêu cho thấy hoạt động và quản lý hoạt động NCKH của GV các trường cao đăng, đại học được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.