Chương 1: Cơ sở lý luận về tích hợp giáo dục bảo vệ môi trƣờng. Chương 2: Thực trạng về dạy học tích hợp của bộ môn Hóa học với giáo dục bảo vệ môi trƣờng ở các trƣờng THCS huyện Dƣơng Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. 5 Luan van Chương 3: Thiế t kế dạy học theo quan điểm tích hợp giáo dục m ôi trƣờng thông qua bô ̣ môn Hoá ho ̣c ở trƣờng THCS. - Kết luận và kiến nghị.
- Tài liệu tham khảo. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU DỰ KIẾN SAU KHI ĐƢỢC GIAO ĐỀ TÀI Thời gian Tháng Nội dung 1 2 3 4 5 6 Chỉnh sửa lại nội dung chuyên đề X Gửi phiếu khảo sát X Nhận phiếu khảo sát X Xử lý số liệu X X Viết luận văn X X X Trình giảng viên hƣớng dẫn góp ý X X X X Chỉnh sửa, hoàn thiện luận văn X X 6 Luan van PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1. Trên thế giới Môi trƣờng và việc giáo dục môi trƣờng là vấn đề đƣợc quan tâm từ rất sớm trên toàn cầu.
Từ những năm 70 của thế kỉ XX, trên thế giới đã có những tổ chức, những Hội nghị về môi trƣờng. Năm 1970, IUCN/UNESCO tổ chức Hội nghị quốc tế về giáo dục môi trƣờng đầ u tiên đƣơ ̣c diễn ra tại Mỹ. Tƣ̀ đây, nô ̣i dung giáo du ̣c môi trƣờng đƣợc đƣa vào trong chƣơng trình đào tạo trƣờng đại học của nƣớc này. Ngày nay, vấ n đề bảo vê ̣ môi trƣờng đã trở thành quố c sách của mỗi quố c gia, giáo dục môi trƣờng không phân biê ̣t giàu, nghèo, tôn giáo , chính trị.
Họ nhâ ̣n đinh ̣ rằ ng muố n bảo vê ̣ môi trƣờng , bảo vệ ngôi nhà chung của nhân loại cần có sự chung tay tham gia của tất cả các nƣớc, đặc biệt là các nƣớc phát triển. Ngày 5/6/1972, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc quyết định lấy ngày này làm ngày Môi Trƣờng Thế Giới. Nhiều hội nghị đã đƣợc tổ chức, các dự thảo, quy định đƣợc đƣa ra đều nhằm mục đích xây dựng một thỏa thuận chung giữa các nƣớc để cải thiện môi trƣờng ngày một tốt hơn. Năm 1975, UNESCO và UNDP xây dựng hệ thống chƣơng trình quốc tế để giáo dục môi trƣờng và tổ chức Hội thảo quốc tế lần thứ nhất ở Belgrade (Cộng Hòa Liên Bang Nam Tƣ), Công ƣớc viên về bảo vệ tầng ozon (1985), Hội nghị Công ƣớc khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (COP17), Hội nghị Nghị định thƣ Kyoto (CMP7),… Vào thời kì công nghiệp phát triển , viê ̣c khai thác các nguồ n tài nguyên quá mức , làm môi trƣờng bị suy thoái , gây ra nhƣ̃ng tai ha ̣i nă ̣ng nề và lâu dài đến con ngƣời.
Trong thông điê ̣p kỹ niê ̣m ngày M ôi trƣờng thế giới (5/6/1999), 7 Luan van giám đố c điề u hành UNEP nêu : “Hạnh phúc và mọi hy vọng của các dân tộc trên thế giới sẽ không có thể có , nế u môi trƣờng và các hê ̣ sinh thái trên Trái Đấ t chƣa đƣơ ̣c đảm bảo an toàn”. Để khuyến khích mọi ngƣời trên thế giới tham gia bảo vệ môi trƣờng, kể từ năm 1987, Liên Hợp Quốc đã tuyển chọn ra ngƣời có đóng góp nhiều nhất trong viê ̣c bảo vệ môi trƣờng để trao Giải thƣởng Global 500, đƣợc tổ chức đúng vào ngày Môi trƣờng thế giới. Trong nhiều năm qua, Global 500 đã thu hút đƣợc đông đảo ngƣời dân tham gia. Kể từ khi thành lập cho đến năm 1999, Liên Hợp Quốc đã trao 647 giải thƣởng Global 500 cho các tổ chức và cá nhân.
Việc này cổ vũ cho các tổ chức và cá nhân khác quan tâm đến việc bảo vệ môi trƣờng. Giáo dục bảo vệ môi trƣờng là cả một quá trình lâu dài và đƣợc xem là một trong những biện pháp hữu hiệu nhấ t để bảo vệ môi trƣờng. Chính vì vậy, mà hầu hết các nƣớc trên thế giới đã chọn cách gửi thông điệp bảo vệ môi trƣờng qua việc lồng ghép, tích hợp giáo dục môi trƣờng thông qua các môn học, nội dung chƣơng trình trong hệ thống giáo dục. Có những nƣớc đƣa giáo dục bảo vệ môi trƣờng vào môi trƣờng giáo dục ngay từ độ tuổi mầm non, tiểu học,… để tạo cho các em những thói quen tốt làm nền tảng đầu tiên và ảnh hƣởng lâu dài đến sau này.
Các em đƣợc dạy dỗ, đƣợc thực hành rất cụ thể và thƣờng xuyên. Ở Nhật Bản, trẻ em đƣợc giáo dục nhặt rác, phân loại rác cũng nhƣ ý thức bảo vệ môi trƣờng ngay từ lúc nhỏ. Trẻ đƣợc giáo dục tạo thói quen tốt để dần hình thành tính cách mà sau này lớn lên khó có thể bỏ đƣợc. Kết quả của việc giáo dục này là ngƣời dân Nhật Bản ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp khác nhau trong xã hội đều có ý thức cao trong việc bảo vệ môi trƣờng.
Hàng ngày mỗi buổi sáng sau khi thức dậy, trƣớc khi đến cơ quan, bƣớc chân ra khỏi cửa việc đầu tiên của ngƣời Nhâ ̣t là vứt rác. Việc phân loại rác thải trƣớc khi vứt ở Nhật Bản cũng đƣợc tiến hành một cách nghiêm ngặt và trở thành hành động rất đổi bình thƣờng của ngƣời dân nơi đây. Rác đƣợc phân thành các loại nhƣ: Rác cháy đƣợc, rác không cháy đƣợc, rác tái tạo đƣợc và rác không tái tạo đƣợc. Cách giáo dục công dân của ngƣời Nhật Bản rấ t tố t nên dù ở Nhâ ̣t thùng rác đặt không nhiều, nhƣng 8 Luan van do ý thƣ́c của họ cao nên trƣớc khi ra ngoài họ tƣ̣ mang túi rác theo bên mình để bỏ rác vào đấy.
Điều đặc biệt ở Nhật Bản là vứt rác phải theo quy định các ngày khác nhau trong tuần. Vào mỗi đ ầu năm, các hộ gia đình đƣợc phát một tờ lịch treo tƣờng. Trên tờ lịch đó có ghi rõ mỗi ngày gom và vận chuyển loại rác nào để viê ̣c thu gom rác dễ dàng. Viê ̣c phân loa ̣i rác thải của ngƣời dân Nhâ ̣t Bản là viê ̣c làm rất ý nghĩa.
Đây là hoa ̣t đô ̣ng góp phầ n bảo vê ̣ môi trƣờng mà các nƣớc trên thế giới nói chung và Viê ̣t Nam ta nói riêng cầ n học hỏi. Ở Singapore, ngoài việc đƣa giáo dục bảo vệ môi trƣờng vào trong chƣơng triǹ h giáo dục các em ở lứa tuổi mầm non, học sinh tiểu học, phổ thông trung học và giáo dục đại học, thì giáo dục môi trƣờng cho ngƣời dân ở Singapore chủ yếu thông qua “kỷ luật thép”. Singapore nổi tiếng rất nghiêm khắc trong việc thi hành pháp luật đă ̣c biê ̣t là họ áp dụng cứng rắn những hình phạt nặng nề đối với việc xả rác bừa bãi. Lần đầu vi phạm sẽ bị phạt tối đa là 1.000 đô la Singapore (khoảng 15 triệu tiền Việt Nam), vi phạm lần tiếp theo mức phạt tăng lên 2.000 đô la Singapore (khoảng 30 – 76 triệu tiền Việt Nam) và buộc phải lao động công ích.
Để tăng cảm giác xấu hổ trƣớc công chúng dành cho ngƣời vi phạm và thông qua đó giáo dục, nhắc nhở ngƣời dân không đƣợc xả rác bừa bãi. Ngƣời vi pha ̣m phải mặc quần áo sáng màu đặc trƣng nhặt rác ở công viên, làm sạch nơi công cộng trong vòng vài giờ. Có đôi lúc, phƣơng tiện truyền thông địa phƣơng đƣợc mời đến để ghi lại sự kiện. Kết quả, Singapore đƣợc xem là thành phố sạch nhất thế giới, đƣờng phố Singapore luôn sạch sẽ và ý thức bảo vệ môi trƣờng ở ngƣời dân đã đƣợc nâng cao.
Nhƣ vâ ̣y, áp dụng pháp luâ ̣t vào công tác bảo vê ̣ môi trƣờng ở Singapore mang la ̣i hiê ̣u quả cao, các nƣớc khác nên học hỏi. Ở Thụy Sĩ, công tác giáo dục bảo vệ môi trƣờng cho ngƣời dân rất đƣơ ̣c xem trọng. Tất cả học sinh tại Thụy Sĩ đều phải đƣợc học các môn học về “Con ngƣời và môi trƣờng”, đến khi trƣởng thành, mỗi ngƣời dân Thụy Sĩ đƣợc phát một quyển sổ nhỏ lƣu trữ thông tin về cách giữ gìn môi trƣờng trong sạch. Với họ 9 Luan van bảo vệ môi trƣờng sống chính là cách họ tự bảo vệ sức khỏe, cuộc sống của chính bản thân họ cũng nhƣ tạo ra môi trƣờng tốt cho con cháu họ sau này.
Ở Thụy Điển, chỉ có 4% rác thải bị chôn vùi, phần lớn rác thải còn lại đƣơ ̣c thu gom từ các hộ gia đình, sau đó đƣa vào lò thiêu hủy. Vì là đất nƣớc ở xƣ́ la ̣nh, ngƣời dân Thụy Điển lấ y khí sinh ra tƣ̀ viê ̣c đố t rác thải phục vụ cho hệ thố ng sƣởi ấ m. Ngoài ra khí đốt từ rác thải còn sản xuất ra điện sinh hoạt. Trong một triệu hộ gia đình ở Thụy Điển, thì hơn 25% trong số họ đã sử dụng điện từ các nhà máy nhiệt điện đốt rác.
Nguồn tiêu thụ lớn, cần nguồn nhiên liệu lớn, chính vì vậy hàng năm hàng chục lò thiêu hủy đặt trên lãnh thổ Thụy Điển tiêu thụ hàng triệu tấn rác. Để đáp ứng nhu cầu rác thải làm nguồn nhiên liệu, Thụy Điển cần phải nhập thêm rác thải từ các nƣớc lân cận nhƣ Na Uy, Anh và Ý [36]. Có thể nói việc xử lý rác thải ở Thụy Điển hiện nay đƣơ ̣c xem là tốt nhất thế giới. Viê ̣c chuyể n khí đố t tƣ̀ rác thải để sƣởi ấm và sản xuất điện tiêu dùng là việc làm vƣ̀a tiê ̣n ić h , vƣ̀a góp phầ n bảo vê ̣ môi trƣờng.
Nhƣ vâ ̣y , muố n xƣ̉ lý rác thải mang la ̣i hiê ̣u quả cao, các nƣớc nên học hỏi kỹ thuâ ̣t tƣ̀ Thụy Điển. Ngoài ra những nƣớc nhƣ Pháp, Úc, Nga, Hàn Quốc và nhiều nƣớc khác trên thế giới, cũng đã xử lý tốt về vấ n đề rác thải và giáo dục tốt về ý thức bảo vệ môi trƣờng cho ngƣời dân của nƣớc ho ̣. Cùng với sự quan tâm về vấ n đề môi trƣờng , các tác giả trên thế giới viết các bài báo nhƣ: Michaela Zint, Anita Kraemer, Giselle Kolenic với bài báo Evaluating meaningful watershed educational experiences? (2014) (tạm dịch: Những kinh nghiệm giáo dục có ý nghĩa về mặt giá trị); Ágnes Zsóka, Zsuzsanna Marjainé Szerényi, Anna Széchy,… với Greening due to environmental education?