CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH VÀO NỘI DUNG DẠY HỌC MÔN SINH HỌC 1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới Từ thời Cổ đại, GDGT đã được quan tâm nghiên cứu, nhưng mang tính chất tôn giáo, mê tín. Kiến thức giới tính được thể hiện trong kinh thánh, trong thần thoại. Ví dụ như: kinh “Kama Sutra” của Ấn Độ, “Nghệ thuật yêu” của Ovidius, “Bữa tiệc” của Platon. Trong đó các tác giả “không những đặt cơ sở cho các chuẩn mực về đạo đức và tôn giáo cho tình yêu mà còn cố gắng cung cấp kiến thức về sinh học và tâm lí học tình dục”[15, tr 10 – 11].
Các thầy thuốc thời cổ đại như Hipocrates cũng hết sức chú ý đến kiến thức giới tính. Mãi đến thời kì Phục hưng thì vấn đề GDGT mới được nghiên cứu một cách bài bản, khách quan. Trong thời kì này các nhà nghiên cứu đã bắt đầu nghiên cứu về những khía cạnh của tình dục. [4, tr 8] Bước sang đầu thế kỉ 20, cơ sở sinh học về giới tính đã được tìm hiểu và biết đến.
Không những thế vấn đề GDGT còn có mối quan hệ mật thiết với tâm lí học. Cuốn sách nghiên cứu về giới tính đầu tiên của nhà tâm lí học người Áo Kraphta Ebingo “Những rối loạn tình dục’’, xuất bản năm 1886. Tiếp theo là hai cuốn sách: “Ba bài thảo luận về lí thuyết tình dục” của nhà tâm lí học người Áo gốc Tiệp Sigmund Freud, xuất bản năm 1905, và “Ứng xử tình dục của đàn ông’’ của Alfred Kingsey, xuất bản năm 1948.[4, tr 10] Trong những thập niên 20-30 của thế kỉ 20, công tác nghiên cứu và GDGT đã thật sự có bước chuyển biến tích cực, việc tìm hiểu phát triển mạnh. Các vấn đề về GDGT đã được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: tâm lí học, xã 7 Luan van hội học, y học và sinh học…Lúc này đã có nhiều công trình nghiên cức được tiến hành trên những lĩnh vực của khác nhau của GDGT, nghiên cứu ở nhiều quốc gia và lãnh thổ khác nhau.
Tất cả đều có kết luận tương tự nhau: GDGT có mối quan hệ mật thiết với văn hóa, xã hội. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, V. Lênin cũng đã nói: “Cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình cũng được coi là cấp bách”. Và ngay lúc này GDGT đã được xem là nội dung quan trọng cần thiết phải truyền tải đến cho học sinh.
Nên đã đưa ra nhiều phương hướng quan trọng trong việc GDGT, cố gắng xây dựng nền móng vững chắc cho nền khoa học giới tính và GDGT. [4, tr 11 – 12] Các nước phương Tây như: Anh, Mĩ, Đan Mạch, Thụy Điển, Pháp…đã tiến hành công tác GDGT cho HS từ khá sớm. Năm 1933, Thụy Điển thành lập Hội giáo dục giới tính với mục đích thông tin, phổ biến kiến thức về giới tính. Năm 1942, Bộ giáo dục Thụy Điển đã đưa GDGT vào trường học, và năm 1956 đã dạy phổ cập cho tất cả các cấp học trong nước.
GDGT được đưa vào chương trình quốc gia Anh, là chương trình giáo dục bắt buộc trong toàn bộ trường học, kể cả với các trường mẫu giáo. Cùng với đó, nhiều nước như: Tiệp Khắc, Hungary, Ba Lan v.v… đều đã tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông bằng những chương trình bắt buộc. Một số nước châu Á, châu Phi, Mĩ Latinh cũng đã đưa giáo dục giới tính vào giáo dục cho học sinh và đã đạt được kết quả vượt bậc. [4, tr 14] Ngay từ năm 1970, Nhật Bản đã tiến hành giáo dục giới tính với tên gọi “Chương trình giới tính học loài người”.
Năm 1972, Hội giáo dục giới tính Nhật Bản chính thức hoạt động, với nhiệm vụ hỗ trợ giáo viên, học sinh trong công tác giáo dục giới tính. Các nước Đông Nam Á như: Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapo, Philipin…cũng thực hiện chương trình giáo dục này. Chương trình GDGT được đưa vào chương trình chính khóa cho HS, và là một nội dung của giáo dục dân số, kế hoạch hóa gia đình. Sử dụng phương pháp lồng ghép hợp lí vào các môn văn hóa khác, tổ chức các hoạt động ngoại khóa.
Không những tổ chức trong nhà trường mà còn tổ chức triển khai cho toàn xã hội. [4, tr 14 – 15] 8 Luan van Trên thế giới, DHTH đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại. Tháng 9 năm 1968, “Hội nghị tích hợp về việc giảng dạy các khoa học” đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari), với sự bảo trợ của UNESCO. Hội nghị nêu ra hai vấn đề là vì sao phải DHTH và tích hợp các khoa học là gì? [30] Theo đó, UNESCO đưa ra định nghĩa về dạy học tích hợp và định nghĩa của UNESCO cho thấy dạy học tích hợp xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập hình thành ở HS những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Quá trình dạy học tích hợp bao gồm những hoạt động tích hợp giúp học sinh biết cách phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác một cách có hệ thống. Như vậy, có thể hiểu tích hợp bao hàm cả nội dung và hoạt động. Trong những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, UNESCO đã có những buổi hội thảo với các báo cáo về việc thực hiện quan điểm tích hợp. Trong những chương trình mới nhất của một số nước như Pháp, Hoa kì., quan điểm tích hợp được ghi rõ trong chương trình nghị sự và hành động.
Theo thống kê của UNESCO, từ những năm 1960 đến năm 1974 đã có 208 chương trình môn khoa học thể hiện quan điểm tích hợp ở những mức độ khác nhau từ liên môn, kết hợp, tích hợp hoàn toàn theo những chủ đề cụ thể. Trên thế giới 3 mô hình chương trình dạy học tích hợp phổ biến nhất, là: Mô hình đa môn (interdisciplinary model), mô hình dựa trên chuỗi vấn đề (problem-based model) và mô hình dựa trên các chủ đề (themebased model). [29, tr 148] Tại một trường trung học của Mỹ, để giảng dạy chương trình tích hợp, thường có 4 giáo viên phụ trách khoảng 110 học sinh. Những môn học chính, gồm: Ngôn ngữ, Toán, Khoa học, Xã hội.
Mô hình này rất thích hợp cho bậc THPT. Ưu điểm của mô hình này là giáo viên có thời gian làm việc cùng nhau, số lượng học sinh vừa phải. Vào năm 1996, dự án giảng dạy về Công nghệ, Khoa học và Toán của hai nhà giáo dục Laporte và Sanders. Mục đích của dự án này là giúp các trường trung học tại Mỹ được học Toán và Khoa học thông qua các hoạt động công nghệ [17].
9 Luan van Các tác giả Zhbamova, Rule, Montgomery và Nielsen [43] sau khi tiến hành khảo sát và nghiên cứu về dạy học tích hợp, đã đưa ra bảng so sánh - đối chiếu giữa dạy học tích hợp và dạy học theo kiểu truyền thống, cho thấyưu thế nổi bật của chương trình dạy học tích hợp so với dạy học truyền thống. Wraga [39, tr 4 – 11] nhấn mạnh rằng dạy học tích hợp làm cho việc học có nhiều ý nghĩa hơn khi xét theo góc độ liên kết giữa học sinh và học sinh, học sinh và giáo viên, liên kết các môn học, độ phức hợp và giải quyết vấn đề. Các nhà khoa học giáo dục như Virtue, Wilson, Ingram nghiên cứu và đưa ra các giải pháp như: Nếu như giáo viên chưa quen với dạy học tích hợp, giáo viên cần bắt đầu với những bài giảng ngắn, liên kết vài vấn đề đơn giản từ các môn học. [36, tr 146 – 161] Hiện nay, hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á đã thực hiện quan điểm tích hợp ở những mức độ nhất định.2 Lịch sử nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam, cùng với giáo dục dân số, GDGT đã được quan tâm rộng rãi.
Trong Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trình chính khoá và ngoại khoá nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái”. Bộ giáo dục đã đưa ra Chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước. [4, tr 15] Năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình được nghiên cứu và công bố rộng rãi. Có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về nhiều vấn đề giới tính và giáo dục giới tính như Bùi Ngọc Oánh, Đặng Xuân Hoài, Phạm Ngọc, Minh Đức, Trần trọng Thủy, Nguyễn Thị Tho.
Các công trình nghiên cứu này thể hiện những khía cạnh rất phong phú về giới tính và giáo dục giới tính tại nước ta lúc bấy giờ. [4, tr 15] 10 Luan van Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh có kí hiệu VIE/88/P09 đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực. Và sự chỉ đạo của Giáo sư Trần Trọng Thủy và Giáo sư Đặng Xuân Hoài nghiên cứu những quan niệm về giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình.và thực trạng nhận thức về vấn đề này của GV, HS và cả phụ huynh. Kết quả nghiên cứu đề án này để chuần bị cho việc GDGT cho HS từ lớp 9 đến lớp 12.
[4, tr 15 – 16] Các dự án đã được tiến hành nghiên cứu như: Dự án VIE/88/P10 là dự án nghiên cứu về khía cạnh kiến thức y học có liên quan đến giới tính. Quan trọng nhất trong dự án này là giáo dục sức khỏe sinh sản. Dự án VIE/88/P11 cấp quốc gia do tổ chức PATH CANADA tài trợ cùng nhóm nghiên cứu Việt Nam. Công trình nghiên cứu cho thấy việc GDGT là vấn đề then chốt của đạo đức, và được đưa vào thực nghiệm từ những năm 1980.
Vào năm 1990 – 1991 được áp dụng rộng rãi đã đẩy GDGT lên một tầm cao mới. Từ đây việc nghiên cứu, xây dựng cơ sở vật chất và cả đội ngũ quản lí, giáo viên có chuyên môn, tầm nhìn nhất định về GDGT. Dự án VIE/88/P12 cũng tiếp tục nghiên cứu về giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.