MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Từ năm 1987, vấn đề SKSS và SKSSVTN bắt đầu được đề cập đến. Tại Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển của Liên hiệp quốc, Cairô, tháng 4 năm 1994 (Hội nghị Cairô), vấn đề SKSS và SKSSVTN đã trở thành vấn đề được đặc biệt quan tâm và được cụ thể hoá thành 10 nội dung trọng tâm. SKSSVTN đang trở thành mối quan tâm hàng đầu trong tất cả các mục tiêu, chương trình về SKSS ở tất cả các quốc gia trên thế giới.
Đã có nhiều nước xây dựng được một chương trình riêng tương đối hoàn chỉnh về GD, chăm sóc, hỗ trợ tăng cường cho SKSSVTN. Vì vậy, nhiều nước đã thu được những kết quả khả quan và những tiến bộ nhất định về chăm sóc, hỗ trợ tăng cường SKSS. Theo con số thống kê vào năm 2003, nước ta có khoảng hơn 15,13 triệu trẻ VTN (từ 10 đến 19 tuổi) và chiếm khoảng 23,1% dân số. Như vậy, VTN ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ rất cao trong cơ cấu dân số, và đây là một tỷ lệ rất cao trên thế giới.
Có thể nói rằng, VTN là một nhóm xã hội đặc biệt, thời kỳ VTN là một giai đoạn có nhiều biến đổi và có tính chất quyết định trong việc hình thành nhân cách của con người. Tuy nhiên, "cho đến nay, các dịch vụ về SKSS đều bỏ qua nhu cầu của nhóm người ở tuổi VTN. Xã hội cần đáp ứng nhu cầu này bằng cách cung cấp thông tin giúp họ đạt đến sự chín chắn cần thiết để họ có thể quyết định đúng đắn và có trách nhiệm. Đặc biệt phải giúp họ hiểu biết về bản năng tình dục của mình và tăng cường khả năng tự bảo vệ, tránh những nguy cơ như mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục (nhất là HIV/AIDS), nạo phá thai, sinh con sớm, vô sinh.
Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh 1 z Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông trung học hiện nay Ở Việt Nam, thời gian qua, việc trang bị kiến thức về SKSS lứa tuổi VTN còn ít được quan tâm. Hiểu biết của VTN về SKSS nhìn chung còn hạn chế, do vậy đã xảy ra những hậu quả đáng tiếc. Tỷ lệ VTN và các thanh niên nam, nữ có quan hệ tình dục trước hôn nhân đang có chiều hướng gia tăng, việc sống thử, sống gấp, thái độ, hành vi dễ dãi trong tình yêu của thanh thiếu niên, nhất là ở khu vực đô thị có xu hướng trở nên phổ biến. Theo thống kê của Hội kế hoạch hoá gia đình, thì Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới (mỗi năm ước tính có từ 1,2 - 1,6 triệu ca nạo hút thai), trong đó VTN chiếm khoảng 20%.
Ở Hà Nội, 15% VTN trong tuổi từ 15 đến 19 đã sinh hoạt tình dục, cả nước có 5% nữ sinh con trước tuổi 18… Bên cạnh đó, hiện tượng lây nhiễm HIV/AIDS ở lứa tuổi VTN cũng đang ở mức báo động. Theo thống kê của Bộ Y tế, có tới 14% số người là trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV/AIDS [52]. Trong nhóm VTN, học sinh PTTH chiếm một tỷ lệ đáng kể có độ tuổi phần lớn từ 16 đến 18 tuổi (từ lớp 10 đến lớp 12). Tính đến học kỳ I năm 2006 - 2007, cả nước ta có 16,36 triệu học sinh phổ thông, trong đó cấp PTTH là 2,99 triệu [4].
Năm 2005, số học sinh PTTH của Thành phố Hà Nội là 108. Hoạt động chủ đạo hàng ngày của nhóm VTN này là học tập, sống phụ thuộc gia đình, chưa có vị trí kinh tế độc lập, đa số chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người công dân về mặt pháp luật. Đối với các em học sinh PTTH, tình yêu học trò cũng có điều kiện về thời gian để hình thành và xuất hiện, nhất là những năm cuối của PTTH. Một số mối tình học đường đã dẫn đến quan hệ tình dục trước hôn nhân trong khi các em chưa có đủ kiến thức để tự vệ, gây nên những hậu quả đáng tiếc; không những dẫn đến có thai ngoài ý muốn khiến các em phải bỏ học, lấy chồng sớm hoặc nạo phá thai lén lút mà còn ảnh hưởng sức khoẻ, y tế, xã hội, rạn nứt tình cảm gia đình, góp phần gia tăng dân số và cũng tác động không nhỏ đến kinh tế - xã hội của đất nuớc.
Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh 2 z Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông trung học hiện nay Theo tài liệu của Trường cán bộ quản lý GD - Đào tạo, trước năm 1994, mục tiêu GD dân số trong các trường phổ thông tại Việt Nam được tập trung vào các nội dung phát triển. Sau năm 1994, GD dân số được tập trung ưu tiên vào các nội dung về SKSSVTN. Công tác GD dân số/ SKSS trong các trường phổ thông đã từng bước được đổi mới và nâng cao chất lượng cả về nội dung và phương pháp; tuy nhiên cũng còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là thiếu sự đồng thuận của dư luận xã hội và rất thiếu nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài chính) đảm bảo cho việc triển khai công tác GD dân số/ SKSS trong nhà trường phổ thông. Một vấn đề tồn tại đang gây nhiều tranh cãi hiện nay ở nước ta, đó là có nên GD SKSSVTN cho VTN hay không? Thực tế cho thấy, so với các thế hệ trước, VTN hiện nay bước vào tuổi dậy thì sớm hơn một tuổi.
Bên cạnh đó, quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, sự thay đổi về lối sống, sự du nhập tràn lan chưa kiểm soát được các văn hóa phẩm từ các nước phương Tây và khu vực. đã góp phần thúc đẩy làm đảo lộn về chuẩn mực giá trị và chuẩn mực đạo đức trong bước chuyển đổi nên VTN đang chịu những tác động cũng như những áp lực hết sức mạnh mẽ từ môi trường xã hội. Từ phía bản thân VTN, các em thật sự có nhu cầu về GD SKSSVTN. Bởi lẽ, đa số VTN hiện nay còn thiếu hiểu biết về các nội dung của SKSSVTN.
Chỉ một dẫn chứng là 76% các em gái dưới 18 tuổi phá thai nói rằng đã không biết có thai đã chứng minh nhận định này [34]. Vì thế, việc GD SKSSVTN và trang bị những kiến thức cho VTN nói chung, học sinh PTTH nói riêng có một vai trò đặc biệt quan trọng. Trong khi đó, công tác GD SKSSVTN hiện nay vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định; do vẫn còn quan niệm cho rằng vấn đề tình dục, tình yêu là những vấn đề kín đáo, tế nhị, tránh đề cập đến ở phạm vi công cộng, thậm chí ngay cả ở trong gia đình nên đã cản trở việc cung cấp kiến thức về SKSS cho VTN. Rõ ràng là VTN - lớp người tương lai của đất nước rất cần được trang bị những kiến thức cần thiết để bảo vệ SKSS, cụ thể là về giới tính, tình yêu, Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh 3 z Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông trung học hiện nay tình dục, các biện pháp phòng tránh thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhất là HIV/AIDS.
Việc GD SKSSVTN cho VTN hiện nay, trong đó có nhóm VTN trong độ tuổi học sinh PTTH có ý nghĩa quan trọng quyết định đến nhận thức, thái độ và hành vi của mỗi cá nhân người học, góp phần xây dựng lối sống lành mạnh, tích cực trong giới trẻ để bảo vệ sức khoẻ, nòi giống dân tộc, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu Nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông trung học hiện nay, nghiên cứu học sinh hai trường PTTH ở thành phố Hà Nội: trường PTTH Yên Hòa, quận Cầu Giấy và trường PTTH Nguyễn Văn Cừ, huyện Gia Lâm; đồng thời tìm hiểu thái độ của cộng đồng đối với việc GD SKSSVTN của học sinh PTTH, với mong muốn góp phần xây dựng một chương trình GD SKSSVTN thích hợp cho các em trong giai đoạn hiện nay. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2. Ý nghĩa khoa học Nghiên cứu nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH hiện nay có một ý nghĩa khoa học nhất định.
Những kết quả nghiên cứu đem lại là cơ sở khoa học cho việc hoạch định và hoàn thiện những chính sách của Nhà nước về SKSSVTN nói chung, chính sách GD SKSSVTN cho VTN, trong đó có học sinh PTTH nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn Về mặt thực tiễn, đề tài cung cấp cho chúng ta một bức tranh khái quát về nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH hiện nay dưới góc nhìn của nhóm các em học sinh ở ba khối lớp 10, lớp 11, lớp 12 đại diện cho học sinh nội thành và ngoại thành Hà Nội; nhóm các thầy cô giáo tham gia công tác quản lý và giảng dạy các nội dung có liên quan đến SKSSVTN; nhóm cha mẹ các em học sinh…; đồng thời cũng cho thấy được những Luận văn Thạc sĩ - Nguyễn Hoàng Anh 4 z Nhu cầu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông trung học hiện nay nguyên nhân, yếu tố tác động đến nhu cầu của học sinh PTTH về SKSSVTN. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra những khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu của của công tác GD SKSSVTN cho học sinh PTTH hiện nay. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu nhận thức của học sinh PTTH tại Hà Nội về SKSSVTN và nhu cầu của các em về GD SKSSVTN, đồng thời tìm hiểu thái độ của cộng đồng về GD SKSSVTN cho học sinh PTTH; từ đó có những phân tích đánh giá và đưa ra giải pháp nhằm tăng cường việc đáp ứng được nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH.
NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4. Khảo sát nhận thức của học sinh PTTH Hà Nội (từ 16 đến 18 tuổi) về SKSSVTN. Tìm hiểu nhu cầu của học sinh PTTH Hà Nội về GD SKSSVTN (bao gồm: nhu cầu về các nội dung kiến thức SKSSVTN, nhu cầu được tiếp nhận các kênh thông tin có liên quan đến SKSSVTN, nhu cầu về sự hỗ trợ của xã hội). Tìm hiểu thái độ cộng đồng (thầy, cô giáo và các bậc phụ huynh) về GD SKSSVTN cho học sinh PTTH Hà Nội hiện nay.
Đề xuất một số giải pháp cần thiết để đáp ứng được nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH. ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ, GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5. Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu GD SKSSVTN của học sinh PTTH hiện nay.