Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH THCS 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1.Trên thế giới Trên thế giới, vấn đề giáo dục giới tính, nhất là giáo dục giới tính cho tuổi vị thành niên luôn là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm của chính phủ các nƣớc, các nhà khoa học và các bậc làm cha mẹ. Do trình độ phát triển kinh tế xã hội, nền văn hóa khác nhau, nên giáo dục giới tính có những đặc thù riêng phù hợp với đặc điểm của từng quốc gia. Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về giáo dục giới tính xoay quanh một số nội dung cơ bản sau: Trƣớc hết, các nghiên cứu về giáo dục giới tính đƣợc tiến hành theo định hƣớng của hội đồng thông tin và giáo dục giới tính Hoa Kỳ (SIECUS).
SIECUS là tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận ra đời vào năm 1964, có nhiệm vụ giúp đỡ bất cứ ai muốn tìm hiểu, khảo sát và “sử dụng khả năng giới tính” trong sự “thông suốt lành mạnh, đầy đủ tinh thần trách nhiệm” [33]. Đến nay, SIECUS đã trở thành nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy nhất về giáo dục giới tính, không chỉ riêng ở Mỹ mà còn cả trên toàn thế giới. Trên trang web chính thức của tổ chức này, các nội dung về giáo dục giới tính đƣợc xây dựng xoay quanh 6 chủ đề chính nhƣ: các mối quan hệ; kĩ năng cá nhân; xã hội và văn hóa; sự phát triển của con ngƣời; hành vi tình dục; sức khỏe tình dục [55]. Dựa theo định hƣớng của SIECUS, Donna Lynn Wallace Obloj (2010) đã nghiên cứu giáo dục giới tính tại trƣờng trung học phổ thông bang Connecticut.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù 97% giáo viên đánh giá nội dung giáo dục giới tính theo hƣớng dẫn của SIECUS là quan trọng song chỉ có 72% giáo viên giảng dạy các nội dung theo hƣớng dẫn này. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy, học sinh tại trƣờng trung học bang Connecticut có sự gia tăng hoạt động tình dục song các chủ đề nhƣ Luan van 9 hành vi tình dục suốt đời, rối loạn chức năng tình dục, thủ dâm… lại ít đƣợc giảng dạy thƣờng xuyên [48]. Không chỉ nghiên cứu việc thực hiện giáo dục giới tính theo định hƣớng của tổ chức SIECUS, các nhà nghiên cứu tại Mỹ còn tìm hiểu ảnh hƣởng của giao tiếp giữa bố mẹ và con cái đến hành vi tình dục của trẻ. Theo nghiên cứu của Nandar Aung (2011), các bậc cha mẹ ở Hawaii có trách nhiệm nói chuyện với con cái về tình dục còn các bác sĩ, y tá, và giáo viên có trách nhiệm cung cấp các kiến thức về giới tính cho trẻ.
Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cho thấy, trẻ vị thành niên đánh giá cao các nỗ lực của bố mẹ trong việc trò chuyện với con cái về giới tính. Tuy nhiên, các em vẫn còn cảm thấy ngại ngùng và lúng túng khi bắt đầu cuộc trò chuyện cùng bố mẹ về tình dục vì thế bố mẹ cần linh hoạt trong cách tiếp cận để các em có thể trò chuyện cởi mở hơn giảm bớt sự ngƣợng ngùng ban đầu. Nghiên cứu đã chỉ ra thông qua các cuộc trò chuyện, bố mẹ có thể truyền tải cho con cái các kinh nghiệm cũng nhƣ các giá trị của gia đình từ đó các em có thể đƣa ra các lựa chọn đúng trong vấn đề giới tính [52]. Kết quả nghiên cứu về tính chất và đặc điểm giáo dục giới tính của Lesedi G.Tumed (2011) tại trƣờng THCS Maokane-Jwaneg ở Botswana cho thấy, giáo dục giới tính là một khía cạnh quan trọng trong đời sống con ngƣời và cần đƣa vào chƣơng trình học trong trƣờng phổ thông.
Nghiên cứu cũng cho rằng nhà nƣớc cần có chính sách cởi mở và hỗ trợ về tài chính cho giáo dục giới tính, đồng thời cần phải đào tạo đƣợc nguồn nhân lực về giáo dục giới tính trong các trƣờng học [50]. Trong lĩnh vực y tế, các nhà nghiên cứu tìm hiểu mối liên hệ giữa giáo dục giới tính và việc sử dụng các biện pháp tránh thai. Leah Macke Gordon (2012) đã nghiên cứu về mối liên hệ này ở lần quan hệ đầu của nam giới tuổi vị thành niên tại Mỹ. Nghiên cứu đƣợc tiến hành trên 546 nam thanh thiếu niên (15-19 tuổi) chƣa lập gia đình và đã nhận đƣợc giáo dục giới tính trƣớc lần quan hệ đầu tiên.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, giáo dục giới tính bao gồm giáo dục về sự tiết chế làm gia tăng tỉ lệ sử dụng bao cao su trong lần giao hợp đầu tiên so với các loại hình giáo dục giới tính khác. Ngoài ra, không có sự liên quan giữa các loại hình giáo dục giới tính với việc sử dụng một phƣơng pháp ngừa thai đáng tin cậy ở lần giao hợp đầu tiên. Thêm vào đó, Luan van 10 mặc dầu các em nhận đƣợc các chỉ dẫn về các biện pháp tránh thai nhƣng các chỉ dẫn này thƣờng hời hợt, không bao gồm hƣớng dẫn về cách sử dụng chúng. Các em có hiểu biết đa dạng về các phƣơng pháp ngừa thai nhƣng thiếu niềm tin vào hiệu quả của các phƣơng pháp này, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả về tỉ lệ sử dụng bao cao su trong lần quan hệ đầu của những em đƣợc giáo dục toàn diện thấp.
Từ những kết quả thu đƣợc, nghiên cứu đã đƣa ra những gợi ý bao gồm các chƣơng trình giáo dục có chứa các thông điệp kiêng nhịn cần đƣợc chú ý hơn vì những lợi ích mang lại, đồng thời khi giáo dục các biện pháp tránh thai cần đi kèm với việc hƣớng dẫn cách sử dụng chúng [49]. Ngoài các nội dung nghiên cứu ở trên, các nhà nghiên cứu về giáo dục giới tính trên thế giới còn đi vào nghiên cứu về các tranh luận đạo đức trong vấn đề giáo dục giới tính. Nghiên cứu của Rantajasko Hsillamaria tại Phần Lan (2013) đã tiếp cận trên ba tƣ tƣởng chủ đạo là dân chủ, tự do và nữ quyền và dựa trên phân tích 5 chủ đề bao gồm: Phá thai; ngừa thai; nội dung khiêu dâm; tình dục; đa dạng tình dục và sự kiêng nhịn (tiết chế). Kết quả nghiên cứu định tính trên 4 cuốn sách giáo khoa lớp 8 khác nhau đã cho thấy, các vấn đề nhƣ sự tôn trọng và an toàn đƣợc ghi nhận công khai, các vấn đề nhƣ ngừa thai, phá thai gây nhiều tranh cãi.
Nghiên cứu cũng chỉ ra, học sinh trong một lớp học với những tôn giáo khác nhau xuất hiện những tƣ tƣởng khác nhác nhau (Tự do hay bảo thủ) về các vấn đề giới tính. Nghiên cứu cũng khẳng định, giáo dục giới tính ở lớp 8 là giai đoạn có vai trò rất quan trọng, đặt nền móng cho những giá trị liên quan đến tình dục sau này. Nghiên cứu đã góp phần thúc đẩy một cuộc đối thoại cởi mở hơn trong khía cạnh đạo đức liên quan đến giáo dục giới tính trong xã hội đa văn hóa ở Phần Lan [53]. Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới về giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên đƣợc tiếp cận trên nhiều khía cạnh: Nghiên cứu về thực tế triển khai việc giáo dục giới tính tại một địa điểm cụ thể, nghiên cứu về các ảnh hƣởng của các quan niệm đạo đức trong quá trình giáo dục giới tính.
Một số nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ của cha mẹ và con cái trong giáo dục giới tính tới hành vi tình dục của trẻ, ngoài ra một số nghiên cứu trong lĩnh vực y tế đã chỉ ra một số sai sót trong quá trình giáo dục giới Luan van 11 tính, các phƣơng pháp tránh thai đƣợc cung cấp hời hợt, không đủ, thiếu chỉ dẫn…Một số nghiên cứu đƣa ra giải pháp để nâng cao chất lƣợng giáo dục giới tính là cần áp dụng các phƣơng tiện nghe nhìn hiện đại, cần có sự hỗ trợ về tài chính và cần đào tạo các nhân sự về giáo dục giới tính tại các trƣờng học. Ngoài các nghiên cứu mà tác giả đã liệt kê ở đây, còn rất nhiều các nghiên cứu khác về giáo dục giới tính, tại rất nhiều nơi trên thế giới đƣợc công bố. Một nét chung dễ nhận thấy ở các nghiên cứu, tuy ở các quốc gia khác nhau, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa khác nhau nhƣng các nghiên cứu về giáo dục giới tính đều chỉ ra tầm quan trọng của giáo dục giới tính cần đƣợc đƣa vào chƣơng trình giáo dục tại các trƣờng học. Tại Việt Nam Từ năm 1990 đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia, nhiều đề tài liên kết với các nƣớc, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và những vấn đề có liên quan nhƣ: giáo dục sức khỏe sinh sản, giáo dục về tình yêu trong thanh niên, giáo dục đời sống gia đình, giáo dục giới tính cho học sinh.
Nghiên cứu về giáo dục giới tính đã nhận đƣợc nhiều sự quan tâm từ phía nhà nƣớc, bộ giáo dục đào tạo, bộ y tế, các nhà khoa học và các bậc phụ huynh [27]. Các nghiên cứu về giáo dục giới tính tại Việt Nam tập trung vào một số các nội dung cơ bản sau: Trƣớc hết, các nghiên cứu về giáo dục giới tính tìm hiểu về nhận thức, thái độ của trẻ vị thành niên đối với vấn đề giới tính và giáo dục giới tính Khi nghiên cứu về nhận thức, thái độ của trẻ vị thành niên đối với giáo dục giới tính, Bùi Ngọc Oánh (1991) đã nghiên cứu về những yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận giáo dục giới tính của thanh niên học sinh. Nghiên cứu đã tiến hành trên 577 học sinh và 169 giáo viên của 10 trƣờng trung học( PTTH và THCS ) tại thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Đồng Nai. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra việc giáo dục giới tính đã đƣợc chấp nhận trong thanh niên học sinh.
Có 74,8% số học sinh cho rằng giáo dục giới tính là việc rất cần thiết. Có 77,3% số học sinh muốn học chƣơng trình giáo dục giới tính. Có 46,8% số giáo viên cho rằng giáo dục giới tính là cần thiết, trong đó đa số giáo viên thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận giáo dục giới tính nhƣng vẫn còn một số ý kiến chƣa thống nhất. Các yếu tố ảnh hƣởng tới tâm lý chấp nhận giáo dục giới tính Luan van 12 của thanh niên học sinh bao gồm hai yếu tố chủ quan và khách quan.
Yếu tố chủ quan là: do bản thân e ngại về những vấn đề xã hội cho là cấm kỵ; do sự hiểu biết về giáo dục giới tính còn non kém, hiểu sai, hiểu không đầy đủ; do sự phát triển về tâm lý nên có nhu cầu tìm hiểu về giới tính.