Phần mở đầu 5 Luan van Phần nội dung Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giáo dục Tình yêu thƣơng cho trẻ 4-5 tuổi tại trƣờng mầm non. Chƣơng 2: Khảo sát thực trạng giáo dục Tình yêu thƣơng cho trẻ 4-5 tuổi tại một số trƣờng mầm non ở TP. Chƣơng 3: Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục Tình yêu thƣơng cho trẻ 4-5 tuổi tại trƣờng mầm non ở TP. Kết luận và kiến nghị Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 6 Luan van Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC TÌNH YÊU THƢƠNG CHO TRẺ 4-5 TUỔI TẠI TRƢỜNG MẦM NON 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Theo Từ điển Tiếng Việt [48], “Nhân” là lòng thƣơng ngƣời; “Ái” là yêu con ngƣời. Nhƣ vậy, có thể hiểu “Nhân ái” chính là tình yêu thƣơng con ngƣời. Những lý thuyết làm cơ sở để giáo dục tình yêu thương cho trẻ em Thuyết thứ bậc nhu cầu của Maslow: Thuyết “Thứ bậc nhu cầu của con người” hay còn gọi là “Thuyết tháp nhu cầu” ( Hierarch of Human Needs) của Abraham Maslow Harold thƣờng đƣợc biểu diễn nhƣ một kim tự tháp năm tầng thứ bậc [7], ông cho rằng cần đáp ứng những nhu cầu vật chất trƣớc khi có thể thỏa mãn những nhu cầu có thứ bậc cao hơn. Tầng đầu tiên trong hệ thống thứ bậc này liên quan đến những nhu cầu vật chất cơ bản nhƣ nƣớc uống, không khí, thức ăn và ngủ.
Đây là những nhu cầu cơ bản và mạnh mẽ nhất, bởi vì thiếu nó con ngƣời không thể sống đƣợc; Tầng thứ hai là những nhu cầu về an ninh và an toàn. Đây là nhu cầu phát sinh sau nhu cầu về mặt sinh học, ngƣời lớn ít bận tâm về nhu cầu an toàn vì họ đã đƣợc bảo đảm nơi cƣ trú do công việc và thu nhập đem lại. Tuy nhiên, đối với trẻ em đây là nhu cầu rất quan trọng, trẻ thƣờng tỏ ra những dấu hiệu cần phải có đƣợc sự bao bọc, chở che, an toàn từ ngƣời lớn; Tầng thứ ba là tình cảm, tình yêu thƣơng và đƣợc nhìn nhận. Đây là nhu cầu yêu và đƣợc yêu của con ngƣời.
Theo Maslow, con ngƣời luôn tìm cách vƣợt qua cảm giác cô đơn và bị xa cách bằng cách tạo ra những mối quan hệ yêu thƣơng, quan tâm nhau. Điều này liên quan đến cả tình cảm cho đi và nhận lại tình yêu thƣơng và sự quan tâm từ ngƣời khác, và ý thức thuộc về lẫn nhau trong cuộc sống; Tầng thứ tƣ là nhu cầu đƣợc coi trọng giá trị bản thân, sự thừa nhận của xã hội. Khi những nhu cầu này đƣợc thỏa mãn, con 7 Luan van ngƣời sẽ cảm thấy tự tin về chính mình và cảm thấy mình có giá trị nhƣ một con ngƣời có phẩm giá, không thua kém bất kỳ một ai cả, ngƣợc lại nếu không đƣợc đáp ứng, con ngƣời sẽ cảm thấy kém cỏi, yếu đuối, bất lực, vô giá trị; Tầng thứ năm, mức cao nhất của hệ thống thứ bậc này, là tự thực hiện bản thân- nghĩa là làm sao cho những khả năng của mình phát triển và đạt đƣợc những kết quả thực sự trong cuộc sống. Nhu cầu này thôi thúc con ngƣời làm sao cho bản thân thể hiện đƣợc chính mình, cũng nhƣ tiềm năng, thiên hƣớng của bản thân.
Theo Maslow rất ít ngƣời đạt đƣợc đến mức này, nhƣng ai đạt đƣợc thì đƣợc hƣởng những khoảnh khắc của một niềm hạnh phúc sâu thẳm và tìm đƣợc sự thỏa mãn sâu xa vì họ đã đạt đƣợc đầy đủ tiềm năng của mình. Maslow tin rằng, lý do duy nhất mà con ngƣời sẽ không biến chuyển theo hƣớng tự hiện thức bản thân mình là bởi các trở ngại cản trở họ do những hoàn cảnh, xã hội tác động. Theo Maslow, giáo dục là một trong những phƣơng cách lựa chọn, hay cách thay thế tốt nhất để giảm bớt đi những trở ngại đó cho con ngƣời. Giáo dục có thể chuyển đổi và giúp con ngƣời phát triển những nhu cầu của họ ngày càng cao hơn.
Nhà giáo dục phải đáp ứng các tiềm năng cá nhân và làm cho cá nhân đó chuyển biến thành một ngƣời theo cách riêng của họ [38]. Thuyết tiến bộ của Dewey: Ông cho rằng nền giáo dục tiến bộ chỉ nên đặt trọng tâm vào đối tƣợng ngƣời học, chứ không phải là đặt trọng tâm vào nội dung giảng dạy hay là giáo viên. Ngƣời học cần phải đối mặt với việc thử thách khả năng của mình bằng những trải nghiệm thực tế. Dewey với triết lý “Giáo dục chính là cuộc sống”, cho rằng giáo dục con ngƣời là đƣa trẻ em hòa nhập vào môi trƣờng cuộc sống [11], qua đó hình thành những giá trị về nhân cách cho trẻ.
Ông xem con ngƣời là cái đƣợc hình thành dƣới sự tƣơng tác của nó với môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội trong những tình huống cụ thể. Nếu thiếu một trong hai yếu tố con ngƣời và xã hội thì khó có thể xem xét các vấn đề giáo dục một cách đúng đắn. Ông đƣa ra khẩu hiệu “giáo dục bằng việc làm” và yêu cầu cần phải cho trẻ tham gia vào các hình thức hoạt động đa dạng của cuộc sống [11,120]. Hơn nữa, chính ông đã thể hiện tƣ tƣởng giáo dục của mình bằng việc thành lập “trường học xã 8 Luan van hội”.
Ông nhận thức, con ngƣời hòa nhập vào xã hội với tất cả hành vi của mình trong các mối quan hệ, chính vì thế mà giáo dục hành vi đạo đức trong nhà trƣờng phải để cho học sinh cọ xát, ứng xử với xã hội. Ông kêu gọi “hãy chấm dứt coi giáo dục như là sự chuẩn bị đơn thuần cho cuộc sống tương lai, hãy coi giáo dục như là ý nghĩa đầy đủ của đời sống đang diễn ra trong hiện tại” [11,19]. Ông nhận thấy, bắt buộc phải làm cho trẻ em nhận thức và thực sự hứng thú tới những mục đích và quy tắc ứng xử cộng đồng khi trẻ em tham gia vào hoạt động của các nhóm xã hội khác nhau, khi đó “vô tình” xuất hiện sự đào tạo có tính giáo dục sâu sắc mật thiệt hơn với tính cách của chúng. Hệ thống giáo dục phòng vệ của J.
Rousseau:Theo Rousseau, con ngƣời đi vào xã hội, nhƣng đó phải là một xã hội đƣợc "hiệu chỉnh" sao cho phù hợp với những đức tính và năng lực tự nhiên của con ngƣời, chứ không phải để trở thành công cụ phục vụ. Vì thế, ông hình dung hai hệ thống giáo dục khác nhau về hình thức do điều kiện xã hội không giống nhau, nhƣng cùng chung mục đích. Hệ thống thứ nhất dành cho xã hội đã đƣợc tổ chức phù hợp với bản tính tự nhiên: nhỏ, gọn, dành cho những con ngƣời tự do, dạy cho trẻ em vui chơi trong tinh thần tập thể, huynh đệ và đoàn kết. Hệ thống thứ hai dành cho xã hội "văn minh và đồi trụy" hiện tồn.
Trƣớc khi cho đi vào xã hội, cần vun bồi tinh thần độc lập, lƣơng thiện, và trui rèn cho trẻ em năng lực đề kháng trƣớc ảnh hƣởng xấu của xã hội. Cái trƣớc gọi là hệ thống giáo dục chủ động, cái sau là hệ thống giáo dục phòng vệ. Trong thực tế, hai hệ thống kết hợp và bổ sung cho nhau, vì cùng chung một mục tiêu [36]. Trong mục tiêu giáo dục, Rousseau đề xƣớng việc đào tạo mang tính khai phóng để phát huy hết năng lực thiên phú của đứa trẻ.
Đứa trẻ cần đƣợc phát triển toàn diện, trƣớc khi bị nhào nặn trong khuôn khổ chật hẹp và cứng nhắc của tiến trình chuyên môn hóa. Một đứa trẻ sau này có thể trở thành một nhà chuyên môn (quan chức, thƣơng nhân, nhà khoa học, nhà binh, tu sĩ.), nhƣng không hình ảnh nào trong số đó đƣợc phép trở thành mục tiêu chính đáng của giáo dục cả. Theo Rousseau, con ngƣời chỉ có một "nghề" duy nhất đƣợc phép học là “làm ngƣời”. Ông cho rằng, chúng ta không thể biết hết về tƣơng lai và về xã hội tƣơng lai sẽ ra sao, nên ta không tài nào 9 Luan van có thể giáo dục đúng nghĩa về tƣơng lai đƣợc cả.
Đứa trẻ, vì thế, không thể là vật thí nghiệm cho một tƣơng lai bất định, mà cho hiện tại. Hiện tại không phải là lợi ích trƣớc mắt, trái lại, là hoàn cảnh sống thật của đứa bé vốn không thể biết hết những gì chờ đợi nó trong tƣơng lai. Vậy, nó phải đƣợc rèn tập để có thể sử dụng những năng lực tự nhiên của mình trong mọi cảnh huống của cuộc sống tƣơng lai, đƣợc chuẩn bị tốt về thể lực, trí lực và tâm lực nhằm sẵn sàng chủ động ứng phó (và đƣơng đầu) thành công trƣớc mọi thử thách sẽ đến. Thuyết Hệ thống giáo dục dự phòng (preventive system of education) của St.
Don Bosco: Ông là một linh mục Công giáo, nhà giáo dục thanh thiếu niên đã xây dựng nên hệ thống giáo dục dự phòng dựa trên 3 cột trụ chính [38]: lý trí, tôn giáo và lòng nhân ái. Trong đó: Lý trí hƣớng đến công việc hoạt động giáo dục nhằm phát triển tiềm năng của giới trẻ bằng các vận dụng những động cơ tác động để phát triển cho các em khả năng phân định cái tốt- cái xấu, đúng- sai, đánh giá đúng sự hiểu biết và phát huy trách nhiệm cho các em; Tôn giáo, niềm tin tôn giáo tạo cho giới trẻ một sự ý thức mạnh mẽ về đời sống luân lý và đạo đức giúp các em biết chọn cho mình cách cƣ xử và hành động tốt đẹp, đạo đức; Lòng nhân ái, thể hiện nhu cầu yêu và đƣợc yêu. Điều này đƣợc thể hiện trƣớc hết trong bầu không khí gia đình nơi mà các em cảm thấy mình đƣợc tôn trọng, đƣợc yêu thƣơng. Kế đến, nhu cầu này cần phải đƣợc duy trì và phát triển trong môi trƣờng học đƣờng, nơi mà các em có thể hƣởng đƣợc sự an lành, đƣợc chơi đùa vui vẻ, nhất là có cơ hội đƣợc thể hiện cá tính, ƣớc mơ của mình.
Chính lòng nhân ái, hay là tình yêu thƣơng và sự gần gũi tạo nên bầu không khí gia đình, cùng với sự ân cần trìu mến đƣợc thể hiện bằng những cử chỉ thân ái, tôn trọng trong đời sống chung với nhau sẽ làm gia tăng sự tin yêu, trách nhiệm và xây dựng tình thƣơng giữa ngƣời trẻ và nhà giáo dục. Nhƣ vậy, Hệ thống giáo dục dự phòng nhằm làm cho cuộc sống của các em thanh thiếu niên trở nên tốt đẹp và bền vững, bằng cách mở ra cho các em những giá trị gắn liền với đời sống và xã hội. Nó giúp các em đạt đƣợc sự phát triển con ngƣời toàn diện và trở thành những công dân có trách nhiệm trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.