Tổng quan luận án
Công trình "Giáo dục tính trách nhiệm dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Luyến được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2022, thuộc chuyên ngành Giáo dục mầm non (mã số: 9.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Thị Phương và PGS.TS Ngô Công Hoàn.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tính trách nhiệm (TTN) là phẩm chất nhân cách giữ vai trò cốt lõi trong mọi nền văn hóa và thời đại. Trong bối cảnh hiện đại, giáo dục hướng tới việc đào tạo "thế hệ có trách nhiệm" (Generation Responsibility - thế hệ R) nhằm đảm nhận các mức độ trách nhiệm xã hội và môi trường ngày càng phức tạp. Tổ chức UNESCO đã xác định trách nhiệm là một trong 12 giá trị sống cơ bản của thế kỷ 21. Tại Việt Nam, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 xác định trách nhiệm là một trong năm phẩm chất chủ yếu cần hình thành ở học sinh (bao gồm trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường, xã hội và môi trường sống). Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên đặt nền móng cho quá trình này, được thể chế hóa qua Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010) với các chỉ số 31 (Cố gắng thực hiện công việc đến cùng), 45 (Sẵn sàng giúp đỡ khi người khác gặp khó khăn), 51 (Chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn) và 52 (Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: các hoạt động giáo dục tính trách nhiệm cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong thực tế còn diễn ra mang tính tự phát, phân tán, thiếu hệ thống và thiếu một khung tiếp cận lý luận cụ thể để định hướng cho giáo viên. Giáo viên mầm non phần lớn thực hiện giáo dục trách nhiệm theo kinh nghiệm truyền thống, đôi khi mang tính áp đặt hoặc giáo điều. Đồng thời, việc tiếp cận dựa trên Quyền trẻ em (QTE) - một quan điểm nhân văn đòi hỏi tôn trọng và trao quyền cho trẻ - chưa được giáo viên hiểu đúng và triển khai đồng bộ; tài liệu hướng dẫn chuyên sâu về việc kết hợp giữa QTE và giáo dục TTN cho trẻ 5-6 tuổi còn hạn chế.
Mục tiêu, giả thuyết và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn giáo dục TTN dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non, từ đó đề xuất những biện pháp giáo dục TTN cho trẻ, nhằm hình thành và phát triển phẩm chất trách nhiệm của trẻ 5-6 tuổi tốt hơn, góp phần chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông.
- Giả thuyết khoa học:
- Trẻ 5-6 tuổi có thể và cần phải thực hiện trách nhiệm với bản thân, với mọi người và với môi trường xung quanh, nhưng trong thực tế, TTN của trẻ còn hạn chế do nhiều nguyên nhân, trong đó có liên quan đến biện pháp giáo dục trẻ.
- Nếu xây dựng được các biện pháp giáo dục TTN cho trẻ 5-6 tuổi theo hướng tạo môi trường tôn trọng trẻ em thông qua việc tổ chức các hoạt động đa dạng, hấp dẫn, phù hợp với khả năng và đảm bảo thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của trẻ, đồng thời trao quyền cho trẻ, thì TTN của trẻ sẽ ngày càng tốt hơn.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (4 nhiệm vụ):
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc giáo dục TTN cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non dựa trên Quyền trẻ em.
- Nghiên cứu thực trạng giáo dục TTN cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non dựa trên Quyền trẻ em.
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục TTN cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non dựa trên Quyền trẻ em.
- Thực nghiệm các biện pháp giáo dục TTN cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non dựa trên Quyền trẻ em.
Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục TTN dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục TTN dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
- Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu TTN của trẻ đối với ba nhóm đối tượng: bản thân, mọi người (cha mẹ/người nuôi dưỡng, giáo viên, bạn bè) và môi trường xung quanh (đồ vật, động vật, thực vật, không gian sống và học tập); lồng ghép qua ba hoạt động hàng ngày: hoạt động học, hoạt động chơi và hoạt động lao động.
- Khách thể khảo sát: 135 trẻ 5-6 tuổi, 120 giáo viên mầm non (GVMN) và 135 phụ huynh (PH) tại thành phố Hà Nội và tỉnh Nam Định.
- Địa bàn và thời gian nghiên cứu:
- Khảo sát thực trạng: Từ 15/5/2020 đến 01/6/2020 tại Trường Mầm non Lý Thái Tổ 2 (MN01), Trường Mầm non KLF Hà Nội (MN02) và Trường Mầm non Xuân Ngọc - Nam Định (MN05).
- Thực nghiệm vòng 1 (thăm dò): Từ 01/6/2020 đến 14/8/2020 trên 23 trẻ lớp Mon4 tại trường MN01.
- Thực nghiệm vòng 2 (chính thức): Từ 17/8/2020 đến 31/12/2020 trên 81 trẻ tại ba trường MN01, MN02 và MN05.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được luận án điểm lại
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn hướng trọng tâm:
-
Nghiên cứu về trách nhiệm và tính trách nhiệm của con người trong xã hội:
- Phương diện đạo đức học: Aristotle với lý thuyết về sự tự nguyện; J. Gailey và cộng sự (1985) xem xét trách nhiệm dựa trên kết quả và mục đích; Max Weber (1979) về chuẩn mực điều chỉnh hành vi; Fernando Rudy Hiller (2019) về hành vi đáng trách và sơ suất; A. Aleksandrov định nghĩa trách nhiệm là thành phần hữu cơ cấu thành đạo đức. Irwin Altman và Dalmas Taylor (1973), Rey Connolly, Osho với thuyết xâm nhập xã hội xếp TTN vào lớp giá trị của nhân cách. Diane Tillman và Diana Hsu (2009) đưa trách nhiệm vào Chương trình giáo dục giá trị sống (LVEP) do UNESCO hỗ trợ.
- Phương diện nghĩa vụ công dân: Nghiên cứu của Rousseau và I. Kant; Joel Westheimer và Joseph Kahne (2004) phân loại ba nhóm công dân (trách nhiệm cá nhân, tham gia, định hướng công lý); Michael P. Mueller và cộng sự (2009, 2014) về thế hệ R; Siddappa Naragatt về sự trung thực với mục tiêu. Tại Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần trách nhiệm cùng các nghiên cứu của Nguyễn Trọng Chuẩn (2008), Trần Đức Cường (2008), Nguyễn Thị Lan Hương (2009), Vũ Tuấn Huy (2009), Trần Anh Phương (2010), Bùi Thị Ngọc Mai (2016).
-
Nghiên cứu về tính trách nhiệm của trẻ em:
- Biểu hiện và phân loại: Lê Thị Hoài Lan (2018) xác định 42 biểu hiện trách nhiệm ở học sinh; Trung tâm Giáo dục cha mẹ Hoa Kỳ (The Center for Parenting Education) phân biệt giữa "sự vâng lời" (obedience) và "trách nhiệm" (responsibility); Maria Montessori phân loại ba nhóm trách nhiệm (bản thân, người khác, môi trường); Keri Power Pye (2014) phân loại trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường và cộng đồng.
- Quá trình hình thành: Thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget (công thức phát triển và sự phân tách trách nhiệm theo mục đích và kết quả); Thuyết học tập xã hội của Albert Bandura (học qua quan sát, bắt chước, mô hình hóa); Thuyết phát triển đạo đức của Lawrence Kohlberg với 3 cấp độ và 6 giai đoạn.
-
Nghiên cứu về giáo dục tính trách nhiệm cho trẻ em:
- Quan điểm của John Locke; Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (1993); Jamal Abu Hussain và Smadar Gonen (2017) đối chiếu giữa Thuyết hành vi (B.F. Skinner) và Thuyết nhân văn (Carl Rogers, Martin Buber); Huitt (2004) tổng kết 4 cách tiếp cận giáo dục nhân cách; Don Hellison (2011) đề xuất Mô hình giáo dục trách nhiệm cá nhân và xã hội (TPSR) gồm 5 cấp độ (từ Cấp độ 0 đến Cấp độ 5), được phát triển tiếp bởi Kenioua Mouloud (2019) và Federico Carreres-Ponsoda cùng cộng sự (2021).
-
Nghiên cứu về giáo dục tính trách nhiệm dựa trên Quyền trẻ em:
- Quan điểm lấy trẻ làm trung tâm từ John Dewey, lý thuyết vùng phát triển gần nhất (ZPD) của L.S. Vygotsky; các chương trình giáo dục xuất phát từ Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (CRC 1989) của Diane Tillman và Diana Hsu (1997), Lori DuPont và cộng sự (1999); Tuyên bố Adelaide (Úc, 1999); Katherine Covell và R. Brian Howe (2001, 2005, 2010); Esra Dereli-Iman (2014) về giáo dục giá trị rõ ràng (explicit); Ingibjorg Osk Sigurdardottir và cộng sự (2019) về hình thức giáo dục ngầm (implicit); Van Driel và cộng sự (2016) về học tập hợp tác và trải nghiệm; Gary Mitchell Allan (2006) và Weidong Li cùng cộng sự (2008) về đánh giá nhận thức trách nhiệm cá nhân và xã hội.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án tập trung giải quyết khoảng trống về mặt lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng một mô hình giáo dục TTN chuyên biệt cho trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) tại trường mầm non dựa trên việc cụ thể hóa 4 nhóm quyền cơ bản của trẻ em (sống còn, bảo vệ, phát triển, tham gia), xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mức độ biểu hiện TTN theo cấu trúc 3 thành phần (nhận thức, hành động, thái độ) và đề xuất hệ thống biện pháp giáo dục mang tính trải nghiệm, trao quyền.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
-
Khái niệm "Trách nhiệm" và "Tính trách nhiệm":
- Trách nhiệm là ý thức của cá nhân về hành động muốn làm, cần phải làm phù hợp với vai trò xã hội và tự giác thực hiện, tự chịu hậu quả với hành động đã gây ra.
- Tính trách nhiệm là một phẩm chất tâm lý của cá nhân, thể hiện cá nhân đó ý thức được hành động muốn làm, cần phải làm phù hợp với vai trò xã hội và tự giác thực hiện, tự chịu hậu quả với hành động đã gây ra.
-
Cấu trúc 3 thành phần của tính trách nhiệm:
- Nhận thức: Hiểu biết về khái niệm, sự việc, tình huống trách nhiệm; nhận biết việc nên làm/không nên làm và hậu quả; đóng vai trò định hướng hành động.
- Hành động: Biểu hiện cụ thể qua lời nói, hành vi trong các mối quan hệ; giữ vai trò điều chỉnh và kiểm tra nhận thức, thái độ.
- Thái độ: Sự tự nguyện, sẵn sàng, vui vẻ, kiên trì, tự giác nhận lỗi và sửa lỗi; giữ vai trò chủ đạo, là động lực thúc đẩy hành động.
-
Khái niệm "Quyền trẻ em" và nguyên tắc thực hiện: Quyền trẻ em là điều trẻ em đáng được hưởng và được đảm bảo bởi pháp luật. Khung phân tích dựa trên 4 nhóm quyền của Công ước CRC 1989 và Luật Trẻ em năm 2016: Quyền sống còn, Quyền được bảo vệ, Quyền phát triển, Quyền tham gia; cùng 4 nguyên tắc thực thi, trong đó nguyên tắc "Vì lợi ích tốt nhất của trẻ" giữ vị trí trung tâm.
-
Mối quan hệ hai chiều giữa Quyền và Trách nhiệm: Trẻ em là chủ thể được hưởng quyền, đồng thời có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện, bảo vệ quyền của bản thân và tôn trọng quyền của người khác tương ứng với lứa tuổi.
-
Các cách tiếp cận nghiên cứu: Tiếp cận dựa trên Quyền trẻ em (giải quyết 3 khía cạnh: Quyền được giáo dục, Quyền đối với chất lượng giáo dục, Quyền được tôn trọng trong môi trường học tập); Tiếp cận lịch sử - xã hội; Tiếp cận giá trị; Tiếp cận hoạt động; Tiếp cận cá nhân.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu; hệ thống hóa và khái quát hóa lý luận về TTN và QTE.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: Quan sát hành vi, thái độ của trẻ trong các hoạt động một ngày ở trường mầm non và quan sát tại 3 gia đình có trẻ 5-6 tuổi.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát 120 GVMN và 135 phụ huynh tại Hà Nội và Nam Định.
- Phương pháp thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu: Trao đổi với chuyên gia, giáo viên, phụ huynh và phỏng vấn trực tiếp trẻ 5-6 tuổi.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên gia giáo dục học, tâm lý học lứa tuổi.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Nghiên cứu sâu chân dung tâm lý và hành vi của 3 trẻ (lựa chọn ngẫu nhiên đại diện cho mức độ TTN cao và thấp).
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành 2 vòng (vòng 1 thăm dò trên 23 trẻ; vòng 2 chính thức trên 81 trẻ) để kiểm định hiệu quả của các biện pháp.
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS để tính toán điểm trung bình (ĐTB/TBC), tỷ lệ phần trăm (%), kiểm định ý nghĩa chênh lệch giá trị trung bình giữa trước và sau thực nghiệm.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật (Công ước CRC 1989, Hiến pháp 2013, Luật Trẻ em 2016, Luật Giáo dục 2019, Điều lệ trường mầm non, Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi 2010); dữ liệu khảo sát thực trạng trên 135 trẻ, 120 giáo viên, 135 phụ huynh; dữ liệu thực nghiệm sư phạm thu nhận tại các trường MN01, MN02 (Hà Nội) và MN05 (Nam Định).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận của giáo dục tính trách nhiệm dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về TTN, QTE và quá trình giáo dục TTN dựa trên QTE cho trẻ mẫu giáo lớn. Tác giả xác lập bảng biểu hiện TTN của trẻ 5-6 tuổi dựa trên sự giao thoa giữa 3 thành phần cấu trúc và 3 đối tượng chịu trách nhiệm:
| Loại trách nhiệm |
Biểu hiện về Nhận thức |
Biểu hiện về Hành động |
Biểu hiện về Thái độ |
| Trách nhiệm với bản thân |
Kể tên các công việc tự phục vụ và bảo đảm an toàn; hiểu mỗi người phải tự chăm sóc cơ thể; giải thích được hậu quả nếu không chăm sóc tốt bản thân. |
Tự thực hiện các công việc tự phục vụ (ăn, mặc, vệ sinh); hoàn thành tốt và đúng giờ; tự đánh giá kết quả và nhận lỗi/sửa sai khi làm chưa tốt. |
Tự giác làm việc tự phục vụ; vui vẻ, cố gắng làm tốt công việc cá nhân; tự nhận lỗi và sửa sai khi chưa làm tốt. |
| Trách nhiệm với người khác (cha mẹ, cô giáo, bạn bè) |
Nêu việc nên làm (chào hỏi, giúp đỡ, giữ lời hứa) và không nên làm (nói dối, tranh giành, chen lấn); giải thích lý do; hiểu phải chịu hậu quả về hành động gây ra cho người khác. |
Luôn quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ người xung quanh; thực hiện tốt việc được phân công; nhận lỗi và sửa sai khi có hành vi chưa đúng. |
Vui vẻ với mọi người; chủ động quan tâm, giúp đỡ khi người khác cần; sẵn sàng nhận lỗi và sửa lỗi. |
| Trách nhiệm với môi trường (đồ vật, động/thực vật, không gian) |
Nêu việc nên làm (chăm sóc cây cối, giữ sạch nơi ở, giữ gìn đồ chơi) và không nên làm (bứt hoa, bẻ cành, xả rác); giải thích tác động xấu/tốt; hiểu trách nhiệm sửa sai. |
Thực hiện hành động bảo vệ môi trường: bảo quản đồ dùng, chăm sóc cây/vật nuôi, tiết kiệm điện nước; sửa chữa khi gây tổn hại môi trường. |
Hứng thú khám phá môi trường; tự giác chăm sóc cây cối, bảo quản đồ dùng, giữ vệ sinh; tự nhận lỗi và sửa sai khi làm hỏng/bẩn môi trường. |
Đồng thời, chương này xác định mối quan hệ tương ứng giữa 4 nhóm Quyền trẻ em và nghĩa vụ trách nhiệm cụ thể của trẻ:
- Nhóm Quyền sống còn: Quyền được sống, ăn uống đủ chất, chăm sóc sức khỏe gắn với trách nhiệm ăn uống không lãng phí, vệ sinh thân thể, thông báo cho người lớn khi cơ thể mệt/đau/ốm.
- Nhóm Quyền phát triển: Quyền vui chơi, học tập gắn với trách nhiệm chọn trò chơi lành mạnh, an toàn, nhường bạn cùng chơi, bảo quản đồ dùng đồ chơi và học tập chuyên cần.
- Nhóm Quyền được bảo vệ: Quyền sống chung với cha mẹ, không bị bạo lực/bóc lột gắn với trách nhiệm vâng lời, làm việc nhà vừa sức, không đánh/xúc phạm người khác, báo cho người lớn khi bị xâm hại hoặc thấy bạn bị bạo lực.
- Nhóm Quyền tham gia: Quyền bày tỏ ý kiến, tham gia hoạt động gia đình/nhà trường gắn với trách nhiệm đóng góp ý kiến, lắng nghe ý kiến người khác và tham gia tích cực vào các hoạt động chung.
Chương 1 cũng phân tích các phương pháp giáo dục (trực quan/nêu gương, dùng lời - thảo luận, suy ngẫm, hướng dẫn, sử dụng lời khen nỗ lực, kể chuyện, thực hành - trải nghiệm như giao nhiệm vụ, trò chơi, giải quyết tình huống, rèn luyện), các hình thức hoạt động (chơi, học, lao động) và các yếu tố ảnh hưởng (đặc điểm cá nhân trẻ, môi trường giáo dục, các lực lượng giáo dục).
CHƯƠNG 2: Thực trạng giáo dục tính trách nhiệm dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng tại 3 trường mầm non (MN Lý Thái Tổ 2, KLF Hà Nội và MN Xuân Ngọc - Nam Định) trên 135 trẻ 5-6 tuổi, 120 giáo viên và 135 phụ huynh từ ngày 15/5/2020 đến 01/6/2020.
Các phát hiện chính bao gồm:
- Thực trạng trong Chương trình GDMN: Nội dung giáo dục trách nhiệm đã xuất hiện rải rác trong các chuẩn phát triển và mục tiêu phát triển tình cảm - kỹ năng xã hội, nhưng chưa được thiết kế thành một hệ thống bài học hay chủ đề rõ ràng gắn liền với Quyền trẻ em.
- Nhận thức và thực hành của GVMN: Phần lớn giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của TTN nhưng hiểu biết về tiếp cận dựa trên QTE còn hạn chế; nhiều giáo viên còn nhầm lẫn giữa sự vâng lời và tính trách nhiệm, có xu hướng áp đặt, kiểm soát thay vì trao quyền cho trẻ tự quyết định và tự chịu trách nhiệm.
- Ý kiến của cha mẹ học sinh: Phụ huynh nhìn nhận TTN của trẻ chủ yếu ở góc độ vâng lời và làm việc nhà khi được nhắc nhở; sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc thống nhất biện pháp giáo dục TTN còn mang tính hình thức.
- Mức độ biểu hiện TTN của trẻ 5-6 tuổi trước tác động sư phạm: Điểm trung bình (ĐTB) TTN của trẻ ở cả ba nhóm tiêu chí (nhận thức, hành động, thái độ) còn ở mức trung bình và thấp. Có sự chênh lệch nhất định giữa khu vực thành thị và nông thôn, cũng như giữa các đối tượng trách nhiệm (trẻ thực hiện trách nhiệm tự phục vụ bản thân tốt hơn so với trách nhiệm với môi trường và người khác).
CHƯƠNG 3: Biện pháp giáo dục tính trách nhiệm dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
Trên cơ sở 4 nguyên tắc đề xuất biện pháp (Đảm bảo mục tiêu GDTTN dựa trên QTE; Đảm bảo phù hợp quá trình hình thành TTN và đặc điểm lứa tuổi 5-6; Đảm bảo sự thống nhất giữa thực hiện "Quyền" và "Trách nhiệm"; Đảm bảo phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình), tác giả xây dựng hệ thống 3 nhóm biện pháp sư phạm:
-
Biện pháp 1: Xây dựng môi trường giáo dục tính trách nhiệm dựa trên Quyền trẻ em phù hợp với trẻ 5-6 tuổi:
- Xây dựng môi trường tâm lý an toàn, tin cậy, tôn trọng sự khác biệt và tiếng nói của trẻ; khuyến khích trẻ tự do bày tỏ quan điểm.
- Thiết lập môi trường vật chất mở, cho phép trẻ tự lựa chọn góc chơi, tự lấy và cất dọn đồ dùng đồ chơi; xây dựng nội quy lớp học có sự tham gia đóng góp ý kiến của chính trẻ.
-
Biện pháp 2: Tổ chức các hoạt động đa dạng cho trẻ trải nghiệm việc ra quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình:
- Trong hoạt động chơi (chủ đạo): Sử dụng trò chơi đóng vai có chủ đề để trẻ thể hiện trách nhiệm theo vai xã hội; sử dụng trò chơi có luật (học tập, vận động) đòi hỏi trẻ tuân thủ quy tắc và chịu trách nhiệm với tập thể nhóm.
- Trong hoạt động học: Thiết kế các tình huống có vấn đề về quyền và trách nhiệm; áp dụng phương pháp thảo luận nhóm, học tập dự án để trẻ tự lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ và giải quyết nhiệm vụ học tập.
- Trong hoạt động lao động (tự phục vụ và chăm sóc môi trường): Giao nhiệm vụ trực nhật, chăm sóc góc thiên nhiên, bảo quản đồ dùng lớp học theo hướng trao quyền, cho phép trẻ tự kiểm tra và đánh giá kết quả công việc.
-
Biện pháp 3: Phối hợp gia đình giáo dục tính trách nhiệm cho trẻ 5-6 tuổi dựa trên Quyền trẻ em:
- Nâng cao nhận thức cho phụ huynh về cách tiếp cận QTE và phương pháp giáo dục trách nhiệm không áp đặt tại gia đình.
- Xây dựng bảng theo dõi việc thực hiện trách nhiệm của trẻ tại nhà (tự phục vụ, giúp đỡ cha mẹ việc vừa sức, chăm sóc cây cối/vật nuôi); duy trì kênh trao đổi thông tin hai chiều giữa giáo viên và cha mẹ.
CHƯƠNG 4: Thực nghiệm biện pháp giáo dục tính trách nhiệm dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
Chương 4 mô tả toàn bộ quá trình thực nghiệm sư phạm qua 2 vòng:
- Thực nghiệm vòng 1 (thăm dò): Thực hiện từ 01/6/2020 đến 14/8/2020 tại lớp Mon4 Trường MN Lý Thái Tổ 2 (23 trẻ). Kết quả so sánh trước và sau thực nghiệm cho thấy mức độ biểu hiện TTN của trẻ lớp Mon4 có sự cải thiện rõ rệt ở cả ba tiêu chí nhận thức, hành động và thái độ.
- Thực nghiệm vòng 2 (chính thức): Thực hiện từ 17/8/2020 đến 31/12/2020 trên 81 trẻ tại ba trường MN01, MN02 (Hà Nội) và MN05 (Nam Định).
Tác giả sử dụng hệ thống bài tập khảo sát, tiêu chí đánh giá và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS. Kết quả đối chiếu trước và sau thực nghiệm chính thức khẳng định:
- Điểm trung bình cộng (TBC) về nhận thức trách nhiệm, hành động trách nhiệm và thái độ trách nhiệm của trẻ sau thực nghiệm đều tăng có ý nghĩa thống kê so với trước thực nghiệm.
- Tỷ lệ phần trăm (%) trẻ đạt mức độ cao về TTN tăng lên đáng kể, tỷ lệ trẻ ở mức độ thấp giảm rõ rệt.
- Kiểm định ý nghĩa chênh lệch giá trị trung bình (GTTB) giữa trước và sau thực nghiệm cho thấy sự chuyển biến tích cực của trẻ là do tác động có hệ thống từ các biện pháp giáo dục dựa trên tiếp cận QTE, không phải do yếu tố ngẫu nhiên.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa, làm rõ và bổ sung khung lý luận về giáo dục tính trách nhiệm cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng tiếp cận Quyền trẻ em.
- Xác định rõ cấu trúc tính trách nhiệm của trẻ 5-6 tuổi gồm 3 thành phần thống nhất hữu cơ: Nhận thức trách nhiệm, Hành động trách nhiệm và Thái độ trách nhiệm; phân loại trách nhiệm theo 3 mối quan hệ: với bản thân, với người khác và với môi trường xung quanh.
- Luận giải sâu sắc mối quan hệ biện chứng hai chiều giữa Quyền trẻ em (4 nhóm quyền: sống còn, bảo vệ, phát triển, tham gia) và Trách nhiệm của trẻ; khẳng định việc trao quyền và tôn trọng quyền là tiền đề để hình thành ý thức và hành vi trách nhiệm tự giác ở trẻ.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp hệ thống dữ liệu thực trạng toàn diện, khách quan về nhận thức, biện pháp giáo dục TTN của giáo viên, sự tham gia của cha mẹ và mức độ biểu hiện TTN của trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non đô thị và nông thôn (Hà Nội và Nam Định).
- Xây dựng và kiểm chứng thực nghiệm hệ thống 3 nhóm biện pháp sư phạm khả thi, gắn liền với việc tạo môi trường giáo dục tôn trọng trẻ, tổ chức hoạt động trải nghiệm ra quyết định và phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình.
- Đề xuất bộ tiêu chí, chỉ số và công cụ bài tập đánh giá mức độ biểu hiện TTN của trẻ 5-6 tuổi, phục vụ trực tiếp cho hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở quản lý giáo dục: Cần tích hợp rõ nét hơn nội dung giáo dục TTN dựa trên QTE vào Chương trình GDMN; ban hành tài liệu hướng dẫn cụ thể và đưa nội dung này vào chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý, giáo viên mầm non.
- Đối với các trường mầm non và giáo viên: Chuyển đổi phương pháp giáo dục từ mệnh lệnh, áp đặt sang trao quyền, tôn trọng quyền tham gia và quyền ra quyết định của trẻ; xây dựng môi trường lớp học dân chủ, an toàn; đa dạng hóa các hoạt động trải nghiệm trong giờ chơi, học và lao động.
- Đối với gia đình và phụ huynh: Tạo điều kiện cho trẻ thực hiện các công việc tự phục vụ và việc nhà vừa sức; lắng nghe, tôn trọng ý kiến của trẻ; phối hợp thường xuyên với giáo viên để thống nhất biện pháp rèn luyện tính trách nhiệm cho trẻ tại nhà.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Địa bàn khảo sát thực trạng và tổ chức thực nghiệm sư phạm mới chỉ tập trung tại 3 trường mầm non thuộc thành phố Hà Nội và tỉnh Nam Định, với dung lượng mẫu thực nghiệm chính thức là 81 trẻ trong thời gian 4,5 tháng. Do đó, mức độ bao quát đối với các vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù khác (như miền núi, vùng sâu vùng xa) chưa được khảo sát sâu.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng quy mô nghiên cứu và thực nghiệm trên các địa bàn có đặc điểm văn hóa, kinh tế - xã hội đa dạng hơn trên phạm vi cả nước.
- Mở rộng nghiên cứu giáo dục tính trách nhiệm theo tiếp cận Quyền trẻ em cho các lứa tuổi mầm non nhỏ hơn (3-4 tuổi, 4-5 tuổi) và giai đoạn chuyển tiếp từ mầm non lên lớp một tiểu học.
- Xây dựng bộ công cụ chuẩn hóa đánh giá định lượng năng lực thực hiện quyền và trách nhiệm của trẻ em trong các cơ sở giáo dục.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên ngành Giáo dục Mầm non và Giáo dục học: Tham khảo khung lý thuyết tiếp cận QTE trong phát triển nhân cách trẻ thơ; sử dụng bộ tiêu chí đánh giá cấu trúc nhận thức - hành động - thái độ trách nhiệm; kế thừa phương pháp thiết kế thực nghiệm sư phạm 2 vòng có kiểm định thống kê SPSS.
- Cán bộ quản lý giáo dục và chuyên viên mầm non: Sử dụng các kết quả nghiên cứu và kiến nghị để định hướng biên soạn tài liệu tập huấn, hướng dẫn thực hiện Chương trình GDMN theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm và tiếp cận quyền.
- Giáo viên mầm non: Vận dụng trực tiếp hệ thống biện pháp sư phạm ở Chương 3 vào việc lập kế hoạch giáo dục hàng ngày, thiết kế các tình huống trải nghiệm trong hoạt động chơi, học, lao động và xây dựng nội quy lớp học có sự tham gia của trẻ.
- Phụ huynh học sinh: Tham khảo các bảng chỉ báo hành vi và cách thức tương tác, trao quyền cho con trẻ tại gia đình, phân biệt giữa việc rèn luyện tính trách nhiệm tự giác với sự vâng lời thụ động.
Câu hỏi thường gặp
1. Cấu trúc tính trách nhiệm của trẻ 5-6 tuổi trong luận án được xác định gồm những thành phần nào?
Cấu trúc tính trách nhiệm của trẻ 5-6 tuổi gồm 3 yếu tố thành phần thống nhất hữu cơ:
- Nhận thức: Hiểu biết về trách nhiệm, nhận thức việc nên làm/không nên làm và hậu quả của hành vi; giữ vai trò định hướng hành động.
- Hành động: Biểu hiện bằng lời nói, việc làm cụ thể trong mối quan hệ với bản thân, người khác và môi trường; giữ vai trò điều chỉnh và kiểm tra.
- Thái độ: Sự tự nguyện, hứng thú, kiên trì, tự giác nhận lỗi và sửa lỗi; giữ vai trò chủ đạo, là động lực thúc đẩy hành động.
2. Mối quan hệ giữa Quyền trẻ em và Trách nhiệm của trẻ được luận án giải thích ra sao?
Mối quan hệ giữa Quyền và Trách nhiệm là mối quan hệ hai chiều diễn ra đồng thời:
- Trẻ em trước hết là chủ thể được hưởng quyền, phải được trao quyền và tạo điều kiện thực hiện quyền để trở thành người có trách nhiệm.
- Ngược lại, trẻ em có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ, biết tự bảo vệ quyền của mình, đồng thời tôn trọng và bảo vệ quyền của người khác phù hợp với lứa tuổi. Quyền lợi và trách nhiệm luôn đi đôi với nhau trong từng nhóm quyền cụ thể (sống còn, bảo vệ, phát triển, tham gia).
3. Luận án đề xuất những nhóm biện pháp sư phạm chủ yếu nào?
Luận án đề xuất 3 nhóm biện pháp chính:
- Xây dựng môi trường giáo dục tính trách nhiệm dựa trên Quyền trẻ em phù hợp với trẻ 5-6 tuổi (cả môi trường tâm lý và môi trường vật chất).
- Tổ chức các hoạt động đa dạng cho trẻ trải nghiệm việc ra quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình (thông qua hoạt động chơi, hoạt động học và hoạt động lao động).
- Phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục tính trách nhiệm cho trẻ dựa trên Quyền trẻ em.
4. Quá trình thực nghiệm sư phạm của luận án được tiến hành theo quy mô và các vòng nào?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành qua 2 vòng:
- Vòng 1 (thực nghiệm thăm dò): Tiến hành từ 01/6/2020 đến 14/8/2020 trên 23 trẻ lớp Mon4 tại Trường Mầm non Lý Thái Tổ 2 (Hà Nội).
- Vòng 2 (thực nghiệm chính thức): Tiến hành từ 17/8/2020 đến 31/12/2020 trên 81 trẻ tại 3 trường mầm non (MN Lý Thái Tổ 2, MN KLF Hà Nội và MN Xuân Ngọc - Nam Định).
5. Khung tiếp cận dựa trên Quyền trẻ em trong luận án tập trung giải quyết những khía cạnh nào của giáo dục?
Khung tiếp cận dựa trên Quyền trẻ em tập trung giải quyết 3 khía cạnh trọng tâm:
- Quyền được giáo dục: Đảm bảo tính sẵn có, khả năng tiếp cận và bình đẳng về cơ hội học tập trong tất cả các giai đoạn lứa tuổi.
- Quyền đối với chất lượng giáo dục: Chương trình giảng dạy phù hợp, học tập và đánh giá dựa trên quyền, môi trường thân thiện, an toàn và lành mạnh.
- Quyền được tôn trọng trong môi trường học tập: Tôn trọng danh tính, tôn trọng quyền tham gia và tôn trọng sự chính trực của trẻ em.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Giáo dục tính trách nhiệm dựa trên Quyền trẻ em cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non" của tác giả Nguyễn Thị Luyến là một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục chuyên sâu, giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong việc hình thành phẩm chất trách nhiệm cho trẻ mẫu giáo lớn. Bằng việc phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng chặt chẽ, luận án đã xác lập cơ sở khoa học về cấu trúc 3 thành phần của tính trách nhiệm gắn liền với 4 nhóm Quyền trẻ em cơ bản. Hệ thống các biện pháp sư phạm mang tính trải nghiệm, trao quyền được kiểm chứng thực nghiệm qua hai vòng đã chứng minh tính hiệu quả và khả năng ứng dụng thực tế cao, đóng góp thiết thực cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ 5-6 tuổi chuẩn bị bước vào trường phổ thông.