Chương 1: Cơ sở lý luận về thái độ của học sinh đối với phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục giới tính - Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về thái độ của học sinh THPT đối với phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục giới tính hiện nay - Kết luận và kiến nghị 6 Footer Page 16 of 107. Header Page 17 of 107. hƣơng 1 Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ T Á Ủ Ọ SN TRUN Ọ P Ổ T ÔN Ố VỚ P ƢƠN P ÁP TỔ Ứ ẢN D Y MÔN ÁO DỤ Ớ TÍN 1.1 Tình hình nghiên cứu về thái đ của học sinh trung học phổ thông đối với phƣơng pháp tổ chức giảng dạy môn học giáo dục giới tính 1. Những nghiên cứu về thái độ 1.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Người đầu tiên nghiêu cứu về thái độ là A. Ông chủ yếu nghiên cứu các khái niệm thái độ chủ quan ở con người với môi trường. Các khái niệm đó được ông tổng kết trong các tác phẩm của mình như: Chương trình nghiên cứu nhân cách trong mối quan hệ với môi trường (1912), Tâm lý học đại cương và thực nghiệm (1912), bút ký khoa học về tính cách (1916), phân loại nhân cách (1917,1924). Theo ông, đời sống tâm lý thực của con người được chia làm hai lĩnh vực.
- Thứ nhất là cái tâm lý bên trong: Là cái cơ sở bẩm sinh của nhân cách, bao gồm khí chất, tính cách và một loạt đặc điểm tâm lý khác. - Thứ hai là cái tâm lý bên ngoài: Là hệ thống thái độ của nhân cách với môi trường xung quanh. Như vậy, theo ông thì thái độ là sự biểu hiện ra bên ngoài của cái tâm lý, phản ứng với cái tác động của môi trường xung quanh. Ông đặc biệt quan tâm thái độ của con người đối với lao động, với nghề nghiệp, với sở hữu người khác và với xã hội [Dẫn theo 5,tr.
Vào năm 1964 nhà tâm lý học nhân cách người Mỹ là J.Guil Ford đã đưa ra định nghĩa về thái độ dựa trên quan điểm cho rằng nhân cách bao gồm bảy khía cạnh tạo nên một cấu trúc độc đáo. Bảy khía cạnh đó là: năng lực, khí chất, giải phẫu, hình thái, nhu cầu, hứng thú và thái độ. Và ông đã định 7 Footer Page 17 of 107. Header Page 18 of 107.
nghĩa “thái độ là những cử chỉ, phong thái, ý nghĩa liên quan đến những hoàn cảnh xã hội” [Dẫn theo18,tr.Lompcher vào năm 1935 đã đưa ra một định nghĩa mới về thái độ “thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêu cực đối với một đối tượng hay một biểu tượng trong môi trường” [Dẫn theo 9,tr.11] Sau này nhà tâm lý học T. Newcom cho rằng: “thái độ chính là một thiên hướng hành động, tư duy nhận thức, cảm nhận của cá nhân tới một đối tượng hay sự việc có liên quan” [4.tr,318] Thuật ngữ Thái độ cũng được các nhà khoa học Liên xô cũ quan tâm nghiên cứu. Những nghiên cứu về thái độ của Liên xô được bắt đầu từ rất sớm. Nhà tâm lý học Xô Viết V.Miaxiseu (1892 - 1973) nghiên cứu vấn đề thái độ trên lập trường quan điểm của một nhà tâm lý học hoạt động.
Ông đã xây dựng nên "học thuyết thái độ nhân cách". Đây là học thuyết tổng hợp các khái niệm về mặt lý luận. Ông cho rằng thái độ mang tính giá trị chủ quan đối với hiện thực khách quan. Hệ thống thái độ được hình thành theo cơ chế chuyển dịch "từ ngoài vào trong" thông qua kinh nghiệm tác động qua lại với người khác trong điều kiện xã hội mà chủ thể đang sống và sinh hoạt.
Cũng theo ông, thái độ nhân cách quyết định đặc điểm cảm xúc, việc tri giác hiện thực khách quan và cũng như sự phản ứng trong hành vi với những tác động từ bên ngoài. Miaxisev còn đề cập đến việc phân loại thái độ, theo ông thái độ bao gồm hai loại: thái độ tích cực và thái độ tiêu cực. Các thái độ này biểu hiện trong quan hệ với người xung quanh là cơ sở hình thành nên thái độ tương ứng trong nhân cách con người.Miaxisev cho rằng tất cả các hoạt động tâm lý hiểu theo nghĩa rộng có thể xem như một dạng nào đó của thái độ, việc mở rộng quan niệm như vậy là thiếu cơ sở khoa học. Nhưng có thể 8 Footer Page 18 of 107.
Header Page 19 of 107. khẳng định học thuyết thái độ nhân cách có những đóng góp lớn làm cơ sở cho việc nghiên cứu thái độ theo quan điểm hoạt động [Dẫn theo 21,tr10] Trong những năm cuối thế kỷ XX nhà tâm lý học người Nga B.Lomov cũng đã để cập đến khái niệm thái độ chủ quan của nhân cách. Tác giả cho rằng, khái niệm "tâm thế " "ý thức cá nhân" là những khái niệm có liên quan và cùng loại với nhau, nó phản ánh những khía cạnh khác nhau của thái độ. Ông còn khẳng đính tính nhiều chiều, nhiều tầng và cơ động của thái độ chủ quan trong một hệ thống phức tạp được gọi là "không gian chủ quan đa chiều", trong đó mỗi chiều đó không gian tương ứng với một thái độ chủ quan cụ thể.
Cũng theo ông, phương thức hình thành thái độ chủ quan thông qua giao tiếp, ông cho rằng cũng có thể xẩy ra mâu thuẫn giữa giao tiếp và hoạt động. Nhưng chính việc giải quyết mâu thuẫn này bảo đảm cho cá nhân chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của cuộc sống. Trên cơ sở những đề xuất, quan điểm nghiên cứu nhân cách, trong đó có thái độ chủ quan của cá nhân, B.Lomov đã vạch ra cơ sở khoa học, phương pháp luận cho việc nghiên cứu thái độ. Khái niệm thái độ lần đầu tiên được đặt ra trong tâm lý học phương Tây bởi W.Znaniecki vào năm 1918 và từ đó thái độ được đặt vào trọng tâm của các nhà khoa học.
Ở đây, vấn đề nghiên cứu khái niệm thái độ được diễn ra với các thời kỳ nhất định. Thời kỳ đầu tiên keo dài từ năm 1918 đến chiến tranh thế giới thứ 2: trong thời kỳ này, hai tác già là W.Znaniecki đã khởi đầu cho việc nghiên cứu thái độ của những người dân Ba Lan khi họ đi di cư sang Mỹ. Biểu hiện ở sự thích nghi của họ với môi trường mới. Tuy nhiên, trong giai đoạn này các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu định nghĩa, cấu trúc chức năng của thái độ cũng như nghiên cứu mối quan hệ của nó với hành vi.
Đáng kể nhất của thời kỳ này là công trình nghiên cứu thực nghiệm phát hiện ra "nghịch lý La Pier " biểu 9 Footer Page 19 of 107. Header Page 20 of 107. thị sự không nhất quán giữa nhận thức và hành vi. Thời kỳ thứ hai kéo dài suốt từ chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối những năm 1950.
Khác với thời kỳ trước đó, ở thời kỳ này các nhà khoa học tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu tìm hiểu, lý giải những hoài nghi về vai trò của thái độ trong việc chi phối hành vi (Các tác giả đáng lưu tâm trong thời kỳ này đó là H. Trong thời kỳ này, do điều kiện chiến tranh cùng vời việc bế tắc trong công việc lý giải các nghịch lý này sinh trong quá trình nghiên cứu mà các công trình nghiên cứu trở trên giảm sút. Một số tác giả nổi lên trong thời kỳ này đáng để lưu tâm là Likerk, Sank, G.Bruner…[Dẫn theo 22,tr. Thời kỳ tiếp theo là từ cuối những năm 1950 đến nay.
Có thể nói rằng đây là thời kỳ bùng nổ về nghiên cứu thái độ ở các nước Phương Tây. Vấn đề thái độ có vị trí xứng đáng trong tâm lý học xã hội. Cũng như ở những thời kỳ trước, khi nghiên cứu vấn đề thái độ trong thời kỳ này chủ yếu tập trung vào nghiêu cứu định nghĩa thái độ, cấu trúc và chức năng của nó. Tuy nhiên các nhà khoa học đã có những bước tiến mới hơn và tiến bộ hơn khi nghiên cứu chúng.
Nhiều học thuyết mới được hình thành trong thời kỳ này nhằm phục vụ cho việc lý giải các mối quan hệ như học thuyết "tự thể hiện mình (Parye Beny)", học thuyết bất đồng nhận thức giữa thái độ và hành vi (Leon Festinger)…. Một điểm chung trong việc nghiên cứu thái độ ở phương Tây là nhằm giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống như tiếp thị, tuyên truyền, vận động tranh cử, bảo vệ môi trường…Tuy là có bước tiến mới song các nhà khoa học phương tây vẫn vấp phải những khó khăn nhất định. Như vậy, có thể thấy rằng khi định nghĩa về thái độ cần phải chọn tiêu chí chức năng làm điểm tựa. Trong tâm lý học Macxit thì có thể thấy chức năng của thái độ thể hiện trong hoạt động hợp tác.
Trong tâm lý học xã hội Mỹ thì một số tác giả đề cập đến khía cạnh nhận thức. Những quan điểm về 10 Footer Page 20 of 107. Header Page 21 of 107. thái độ của các nước có sự ảnh hưởng nhất định đến các trường phái quan niệm về thái độ ở Việt Nam.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề thái độ cũng được quan tâm nghiên cứu nhiều. Hầu hết các quan điểm của các nhà tâm lý học Việt Nam đều xuất phát trên quan điểm tâm lý học hoạt động. Vấn đề thái độ cũng không là ngoại lệ. Vấn đề này nghiên cứu về thái độ chủ yếu là khái quát, tổng hợp lại những vấn đề lý luận, về thái độ như định nghĩa, cấu trúc, đặc điểm của thái độ.
Các tác giả lớn chúng ta có thể đề cập đến như là Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ, Trần Hiệp…. Theo tác giả Phạm Minh Hạc “thái độ là một trong những biểu hiện của động cơ học tập, là mục đích hàng đầu của hoạt động dạy học bên cạnh việc cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng kỹ xảo” [4,tr. Cũng có quan niệm cho rằng “thái độ là một bộ phận cấu thành, đồng thời là một thuộc tính cơ bản của ý thức”. Một quan niệm khác lại cho rằng “thái độ xét về mặt cấu trúc nó bao hàm cả mặt nhận thức, mặc xúc cảm và hành vi” [23] Trong những năm gần đây, nhiều luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ và các khoá luận tốt nghiệp tâm lý học đã chú trọng nhiều đến việc nghiên cứu thái độ trên nhiều lĩnh vực nhiều đối tượng và nhiều khía cạnh khác nhau.
Bước đầu cũng góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội. Khái quát những nghiên cứu về thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục giới tính.