Chương 1: Cơ sở lý luận về nhận thức của học sinh trung học phổ thông thành phố Đà Nẵng về bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái. Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu về nhận thức của học sinh trung học phổ thông thành phố Đà Nẵng về bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VỀ BẠO LỰC ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM GÁI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1.
Nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề nghiên cứu về bạo lực giới trên thế giới đã được rất nhiều nước quan tâm và có nhiều nghiên cứu các hành vi bạo lực trên cơ sở giới. Để góp phần hạn chế bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái, tổ chức Liên hiệp quốc đã triển khai thực hiện có hiệu quả các công cụ can thiệp tại các vùng trên thế giới; các tổ chức phi chính phủ như Cơ quan Liên hiệp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ, Tổ chức vì Hòa Bình và Phát triển Tây Ban Nha,… đã có nhiều hoạt động ý nghĩa trong công tác phòng ngừa và ứng phó với bạo lực giới Theo nghiên cứu của Đại học Hollaback và Cornell năm 2014 đã phỏng vấn 16,000 phụ nữ, chỉ ra rằng có tới hơn 50% phụ nữ ở Châu Âu và 75% phụ nữ ở Mỹ đã đối mặt với sự cố quấy rối tình dục lần đầu trước năm 17 tuổi. Trên 70% đã bày tỏ sự tức giận và lo lắng về việc đối mặt với quấy rối tình dục trên đường phố. Hơn 81% phụ nữ được phỏng vấn đã trải qua một hình thức quấy rối tình dục nào đó.
Một số nghiên cứu quy mô lớn ở thành phố cũng chỉ ra kết quả tương tự. Nghiên cứu đa quốc gia "Dự án bao trùm giới tại các thành phố" nhấn mạnh rằng, hơn 70% phụ nữ được phỏng vấn ở Delhi, Dar es Salaam và Rosario đã trải qua một hình thức bạo lực tình dục nào đó ở thành phố (WICI, 2010). Một khảo sát năm 2008 ở Cairo cho thấy 83% phụ nữ đã thông báo ít nhất một sự cố quấy rối tình dục (WICI, 2012). Tương tự như vậy, nghiên cứu năm 2014 ở Mỹ cùng chỉ ra rằng hơn 60% phụ nữ đã đối mặt với quấy rối tình dục (Kearl, 2014).
Tại Vương quốc Anh, khảo sát của YoyGov với 1,047 người dân Luân Đôn do Liên minh chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ ủy nhiệm tiến hành cũng đã phát hiện 43% phụ nữ độ tuổi từ 18 đến 34 đã gặp phải quấy rối tình dục ở nơi công cộng trong năm qua [19]. Nghiên cứu đa quốc gia về nam giới và bạo lực ở Châu Á và Thái Bình Dương năm 2013 của Chương trình Đối tác Phòng ngừa bạo lực giới (P4P) thuộc Cơ quan Liên Hợp Quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women) cho thấy: Tình trạng nam giới hiếp dâm phụ nữ xảy ra ở khắp khu vực, dao động từ 10% (Bangladesh) đến 62% (Papua New Guinea-Bougainville). Tất cả những người đàn ông được phỏng vấn đều có thể kể ra một số hình thức hãm hiếp một người phụ nữ 6 hoặc trẻ em gái trong cuộc đời của họ. Một nửa (49%) những người đàn ông đã cưỡng hiếp phụ nữ lần đầu tiên khi còn là thanh thiếu niên.
Nghiên cứu cũng cho thấy khía cạnh tích cực rằng không phải tất cả đàn ông đều sử dụng bạo lực. Một số người đàn ông bày tỏ sự thất vọng với những quan niệm thường gặp về đàn ông; những người khác thể hiện và thực hành các dạng nam tính thay thế để thúc đẩy chia sẻ quyền lực công bằng giữa nam và nữ [2]. Theo các tác giả Margaret Brome Janet Saul Karen Lang Rebeca Lee-Pethel Neil Rainford Jocelyn Wheaton , năm 2004 đã đề cập đến các vấn đề như làm thế nào để “phòng ngừa” bạo lực tình dục, trong tài liệu CDC, Sexual violence prevention: beginning the dialogue, các tác giả đã xây dựng các khái niệm, phương pháp hành động dựa trên cơ sở y tế công cộng nhằm phòng ngừa và bảo vệ các nạn nhân bạo lực tình dục. Từ “Thảo luận ban đầu này của y tế công cộng” đã đặt nền tảng cho các cuộc đối thoại trong tương lai về cách chương trình phòng chống bạo lực tình dục cá nhân và tập thể từ đó xác định chiến lược và các cơ hội để tối đa hóa hiệu quả của các chương trình can thiệp.
[30] Theo Garcia-Moreno C., Jansen HAFM, Watts C, Ellsberg M, Heise L, Nghiên cứu đa quốc gia của WHO về sức khoẻ phụ nữ và bạo lực gia đình đối với phụ nữ: Báo cáo tóm tắt kết quả ban đầu về sự phổ biến, thành quả y tế và phản hồi của phụ nữ, Tổ chức Y tế Thế giới, 2005, Một nghiên cứu đa quốc gia của Tổ chức Y tế Thế giới về bạo lực đối với phụ nữ được tiến hành ở 10 quốc gia cho biết rằng 13-61% phụ nữ bị bạo lực thân thể bởi một người bạn tình của họ. Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực tình dục từ 6- 59%. Hầu hết ở các địa điểm nghiên cứu, tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực cả về thân thể và tình dục chiếm từ 30-50%. Đa số những hành động bạo lực thân thể cấu thành do bị lạm dụng liên tục.
Bạo lực trong thời gian mang thai cũng là một vấn đề nghiêm trọng. Các cuộc khảo sát dựa trên số dân ở Ca-na-đa, Chi-lê, Ai Cập và Ni-ca-ra-goa cho thấy 6- 15% phụ nữ đã từng bị lạm dụng về thân thể hoặc tình dục trong quá trình mang thai [25] Theo Krug, E G., Mercey, JA, Zwi, AB, Lozano, R. (2002) Báo cáo Thế giới về Bạo lực; Chương 4, Bạo lực bởi bạn tình, Geneva, Tổ chức Y tế Thế giới, 2002: Bạo lực trong thời gian mang thai đang là một vấn đề nghiêm trọng. Các cuộc khảo sát dựa trên số dân ở Ca-na-đa, Chi-lê, Ai Cập và Ni-ca- ra-goa cho thấy 6-15% phụ nữ đã từng bị lạm dụng về thân thể hoặc tình dục trong quá trình mang thai.
[28] Theo tác giả Angeles Rebollo-Catalan, Virginia Mayor-Buzon (2019),vấn đề bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Nghiên cứu của nhóm tác giả này với 1.468 thanh thiếu niên từ 13 đến 17 tuổi cho kết quả, gần 25% 7 các hình thức bạo lực khác nhau thường xuyên xẩy ra đối với phụ nữ và trẻ em gái.Từ phía người chứng kiến, hơn 30% thanh thiếu niên chứng kiến bạo lực mà không có hành động gì, trong khi các nữ thanh niên thể hiện nhiều hành vi tích cực để giúp đỡ nạn nhân. Nghiên cứu chỉ ra các phương pháp giúp đỡ cho phụ nữ và trẻ em gái khi có các vấn đề bạo lực [22]. Theo nhóm tác giả Morgan Pommells 1, Corinne Schuster-Wallace 2, Susan Watt 2 3, Zachariah Mulawa 4 (2018), các rủi ro của bạo lực giới trong cộng đồng liên quan đến khả năng tiếp cận các nguồn lực nước, vệ sinh bị giảm thiểu.
Nghiên cứu của nhóm tác giả tại các nướcRwanda, Tanzania, Uganda và Kenya cho thấy, do có sự ảnh hưởng của các điều kiện văn hoá và môi trường khác nhau đã dẫn đến các vấn đề bạo lực mà chủ yếu là liên quan đến nước sạch và vệ sinh. Các kết quả nghiên cứu đã đề ra các giải pháp về việc tăng cường giáo dục về công bằng giới cho người dân [31]. Theo tác giả Pierre Bourdieu, tại tựa đề bài viết “Cách nhìn của phụ nữ về cách nhìn của nam giới” trong cuốn “Sự thống trị của nam giới” (2010), tác giả khẳng định rằng phụ nữ có một lòng tin đơn thuần về việc cần tuân thủ một cách vô điều kiện chồng mình. Họ thấy mình có sự lệ thuộc vào suy nghĩ của người chồng và như vậy mang lại cho họ một cảm giác an toàn hơn.
Vì thế, họ có khuynh hướng ước lượng thành công của mình dựa theo thành công của chồng. Họ tin vào tình yêu số phận- đó là tình yêu đối với kẻ thống trị và sự thống trị của kẻ đó, vì thế mà từ bỏ ham muốn thống trị .Trong cuốn sách này, Bourdieu đã phân tích các mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới, xuất phát từ việc nghiên cứu dân tộc học xã hội của người Berbères tại Kabylie, và tìm hiểu những cấu trúc tượng trưng của vô thức lấy nam giới làm trung tâm, hiện vẫn tồn tại ở nam giới và nữ giới ngày nay. Là một trong những cuốn sách ngắn nhất và thú vị nhất của Pierre Bourdie, Sự thống trị của nam giới là sự hòa quyện của khả năng phân tích khoa học và một thứ văn phong cuốn hút, tạo được một sự chú ý đặc biệt đối với giới nghiên cứu xã hội học [34]. Năm 1992, tác giả Margaret Schuler (chủ biên) và các cộng sự có tác phẩm “Freedom from Violence – Women׳s Strategies from Around the World” (Tự do từ bạo lực - Chiến lược toàn cầu của phụ nữ) đã phản ánh tình trạng bạo lực chống phụ nữ tồn tại từ các nước phát triển như Mỹ đến các nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh.
Tính đa dạng của hoàn cảnh, văn hóa, nguyên nhân, các hình thức bạo lực… mà tác giả đã nói lên tính phổ biến của các dạng bạo lực chống phụ nữ trong đó có bạo lực gia đình. Tác phẩm đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về vấn đề và chiến lược liên quan đặc biệt đến bạo lực giới- đó là mở rộng chương trình tuyên truyền vận động, giáo dục, cải cách luật pháp và hành động chống bạo lực với phụ nữ [36]. 8 Năm 1994 với tác phẩm “Loving to Survice – Sexual Terror Men׳s Violence and Women׳s Live” (Tình yêu đến sự sống – Sự khủng bố tình dục của người đàn ông và cuộc sống của người phụ nữ), các tác giả Dee. Rawligs và Roberta.
Rigsby đã nêu rõ các ảnh hưởng do bạo lực của nam giới đối với phụ nữ và tâm lý của họ. Tình trạng hiện tại của nhiều phụ nữ là ở dạng nô lệ, bị giam cầm và việc liên tục bị đánh sẽ làm mất khả năng xây dựng năng lực cho họ. Đây không phải là một vấn đề mang tính “tự nhiên” mà là một vấn đề xã hội. Trong tác phẩm này, các tác giả cho rằng chỉ có Thuyết nữ quyền cấp tiến là thừa nhận bạo lực của nam giới đã ảnh hưởng tới cuộc sống của người phụ nữ [24].