ĐẶT VẤN ĐỀ Theo tổ chức y tế thế giới tình hình quan hệ tình dục sớm và nạo phá thai ở tuổi vị thành niên tại nhiều nước đang tăng lên ở mức báo động, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Hoạt động tình dục của vị thành niên đến sớm và nhiều hơn so với trước kia tùy thuộc vào từng quốc gia và nền văn hóa khác nhau. Ở các nước phát triển như Newzealand có 49% vị thành niên (15-19 tuổi) đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân, ở Mỹ là 46% và ở Thụy Điển là 54,2% nam vị thành niên đã có quan hệ tình dục [43].Tại Indonesia, theo Cơ quan kế hoạch quốc gia đã đưa ra thông báo hơn 1 nửa số thanh thiếu niên ở Jakarta đã tham gia vào quan hệ tình dục trước hôn nhân (51 trong 100 thanh thiếu niên) [50]. Nghiên cứu được tiến hành trong 21 trường phổ thông ở Thái Lan, đã chỉ ra có 1/3 nam học sinh lớp 12 đã từng có quan hệ tình dục và tuổi quan hệ tình dục lần đầu tiên là ở nam 16 tuổi, 18 tuổi ở nữ [39].
Dân số hiện nay của Việt Nam là 86 triệu người (đến 0 giờ ngày 1/4/2009 là 86.600 người) và trong đó có khoảng hơn 16 triệu vị thành niên [33]. Cùng với sự đổi mới về kinh tế, văn hoá xã hội đặc biệt là sự gia nhập của lối sống phương Tây ảnh hưởng rất lớn tới thái độ, hành vi của vị thành niên làm họ đang phải đối mặt với rất nhiếu vấn đề sức khoẻ của chính mình. Họ dễ gặp phải các vấn đề như có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS. Cũng như nhiều quốc gia khác trên Thế giới và trong khu vực, xu hướng có QHTD trong tuổi vị thành niên ở Việt Nam gia tăng một cách nhanh chóng.
Do lối sống thay đổi, sự gia nhập của nhiều nguồn thông tin và văn hóa khác nhau nên quan niệm về QHTD trước hôn nhân của đối tượng VTN/TN cũng thay đổi đặc biệt là VTN/ TN nam. Có tới 41% nam và 22% nữ chấp nhận QHTD trước nếu đôi nam nữ sẽ cưới nhau [7]. Vấn đề quan hệ tình dục ở lứa tuổi học sinh đang là vấn đề nóng bỏng được xã hội quan tâm. Điều tra trên 3.169 học sinh phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh 2 cho thấy tỷ lệ học sinh có người yêu với lớp 10 là 19,2%; lớp 11 là 34,66% và tới cuối cấp là 50%.
Học sinh cấp III trong nghiên cứu này đã có quan hệ tình dục với tỷ lệ 8,17%, tỷ lệ này ở nam cao gấp 2,6 lần so với nữ [34]. Tuy nhiên, bên cạnh đó thì kiến thức của vị thành niên về QHTD nói riêng và SKSS nói chung còn nhiều hạn chế. Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm 2009 (SAVY 2) thì đối với những câu hỏi đơn giản như "Liệu một bạn gái có thể mang thai sau lần quan hệ tình dục đầu tiên không?" cũng chỉ có 71% (nam 67% và nữ 74%) trả lời là "có". Đối với câu "Nếu không muốn mang thai, người ta nên làm gì?" chỉ với những phương án trả lời đơn giản là (1) sử dụng các biện pháp tránh thai, (2) không quan hệ tình dục, (3) biện pháp khác, và (9) không biết, cũng chỉ có 82% thanh niên (83% nam và 81% nữ) chọn "sử dụng các biện pháp tránh thai".
Tỷ lệ phần trăm nam nữ thanh niên trả lời đúng câu hỏi về thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh của phụ nữ là khá thấp. Với nghiên cứu trên vị thành niên và thanh niên tại Chí Linh, Hải Dương năm 2007 của Lê Cự Linh và cộng sự cũng cho thấy chỉ có 41,6% ở nam và 50,4% ở nữ biết cách phòng ngừa BLTQĐTD [23]. Vì thế nên đã dẫn tới nhiều hậu quả đáng tiếc như mang thai, nạo phá thai ở tuổi vị thành niên, vô sinh, ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe và tâm lý của các em ở độ tuổi này. Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình thì Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới (1,2-1,6 triệu ca mỗi năm), trong đó 20% thuộc lứa tuổi VTN, thậm chí có em chỉ mới 12 tuổi [20].
Khuất Thu Hồng và cộng sự đã điều tra trên 259 phụ nữ chưa chồng tới nạo hút thai ở 1 số bệnh viện tại Hà Nội thì có 37,5% thuộc độ tuổi từ 15-19 [10]. Trong nghiên cứu này chúng tôi chọn trường THPT Đống Đa vì qua tìm hiểu thông tin chung tại trường thì thấy tỷ lệ hiểu biết của các em về quan hệ tình dục an toàn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục còn thấp, có em còn chưa hiểu chưa 3 đúng về các BPTT. Đặc biệt hơn, khi nói chuyện với thầy Hiệu phó và cô giáo dạy văn thì được biết năm ngoái cũng có tình trạng có học sinh nữ phải nghỉ học vì có thai, thầy cô cũng biết về giáo dục giới tính và SKSS là cần thiết trong trường học nhưng không được đào tạo chuyên sâu. Trong khi đó, lứa tuổi học sinh PTTH là giai đoạn hoàn thiện tính cách và nhân cách, là lứa tuổi dễ bị ảnh hưởng bởi bạn bè, môi trường xung quanh do đó dễ gặp phải các vấn đề liên quan đến QHTD.
Vậy các em hiểu biết như thế nào về QHTD? Thái độ, hành vi của các em với vấn đề này ra sao? Và nguyên nhân nào dẫn tới hành vi quan hệ tình dục ở lứa tuổi PTTH? Nghiên cứu này muốn phần nào trả lời những câu hỏi trên nhằm đưa ra các khuyến nghị để hỗ trợ các tổ chức xã hội, ban ngành, nhà trường, gia đình có kế hoạch cụ thể để tạo ra môi trường học tập lành mạnh cho các em, giảm thiểu các tác động xấu của QHTD tuổi vị thành niên/thanh niên. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thái độ, hành vi về quan hệ tình dục của học sinh trường THPT Đống Đa, Hà Nội năm 2011. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi về quan hệ tình dục của học sinh trường THPT Đống Đa, Hà Nội năm 2011.
5 CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Vị thành niên Theo tổ chức y tế thế giới, Vị thành niên là những người trong độ tuổi 10-19, đang trong giai đoạn tăng trưởng nhanh về mặt thể chất và hoàn thiện bộ máy sinh sản, trưởng thành về tâm lý xã hội và hình thành nhân cách. Cũng theo WHO, thanh niên là những người ở độ tuổi từ 15-24 tuổi và những người trẻ tuổi là những người ở độ tuổi từ 10-24 tuổi [6], [16].
Căn cứ vào tình hình thực tế của Việt Nam, năm 1996 Vụ Bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em và Kế hoạch hóa gia đình thuộc Bộ y tế đã đưa ra đề nghị xếp tuổi của VTN thành hai nhóm tuổi: nhóm 1 từ 10 đến 14 tuổi, nhóm 2 từ 15 đến 19 tuổi. Vị thành niên là một giai đoạn phát triển đặc biệt và mạnh mẽ nhất, cả về trí tụê và thể lực, giai đoạn này của kém tốc độ phát triển của bào thai và những tháng đầu của trẻ em mà thôi. Tuổi VTN thường có những hành vi, những thử nghiệm biểu hiện sự hào phóng, phù phiếm hoặc có nguy cơ gây hại cho bản thân và xã hội. VTN thích thử sức mình, thích tự khẳng định mình và thoát ly sự kiểm soát của bố mẹ hoặc người lớn tuổi.
Đôi khi cũng dễ bị tiêm nhiễm những hành vi, cách ứng xử lệch chuẩn hoặc vi phạm pháp luật bởi sự lôi kéo của bạn bè. Đây cũng là lứa tuổi đang phát triển và định hình nhân cách, nhiều yếu tố tâm lý chưa được hình thành vững chắc, quan điểm sống chưa rõ ràng mà đặc trưng cơ bản là mâu thuẫn tâm lý giữa một bên là tính chất quá độ không còn trẻ con, nhưng cũng chưa phải là người lớn và một bên là “ý thức bản thân” phát triển mạnh mẽ, có ý nghĩ cho mình đã là người lớn và đòi hỏi được đối xử như người lớn. Giai đoạn hình thành và phát triển VTN chịu tác động rất lớn bởi những yếu tố kinh tế, văn hóa xã hội đặc trưng. Cho nên chăm lo tốt về sức khỏe, định hướng tố 6 cả về tư tưởng, tinh thần, giúp đỡ tiếp cận và thực hành những giá trị chuẩn mực, đúng đắn của xã hội cho lứa tuổi này rất cần thiết.
Sức khỏe sinh sản. Sức khỏe là tình trạng phát triển hài hòa của mỗi người về thể lực, trí tuệ và khả năng hòa nhập cộng đồng, chứ không phải chỉ là không có bệnh tật, ốm đau hoạc không tàn phế. Từ đó, sức khỏe sinh sản theo định nghĩa của WHO-là một trạng thái hoàn hảo về mặt thể chất, tinh thần chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật trong mọi vấn đề liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản [9], [16], [30]. Như thế SKSS cũng có thể hiểu là mọi người có thể có cuộc sống tình dục an toàn, hài lòng, họ có khả năng sinh sản, tự do quyết định có sinh con hay không, sinh con khi nào và sinh bao nhiêu con.
Chương trình hành động của Hội nghị Cairo cũng đã đề cập đến nội dung cơ bản của chăm sóc SKSS là: -Tư vấn, giáo dục, truyền thông và dịch vụ KHHGĐ an toàn, hiệu quả và chấp nhận tự do lựa chọn của khách hàng, kể cả nam giới. - Chú trọng sức khỏe VTN ngay từ lúc bước vào tuổi hoạt động tình dục và sinh sản. - Giáo dục sức khỏe và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh, bao gồm cả chăm sóc trong lúc có thai, khi đẻ và sau đẻ. - Phòng ngừa và điều trị bệnh viêm nhiễm đường sinh dục và các bệnh LTQĐTD.
- Điều trị vô sinh. - Xử trí các vấn đề sức khỏe phụ nữ như các bệnh phụ khoa, giáo dục tình dục học cho cả nam và nữ, huy động nam giới có trách nhiệm trong mỗi hành vi tình dục và sinh sản…[30]. Sức khỏe sinh sản vị thành niên Sức khỏe sinh sản vị thành niên là những nội dung về sức khỏe sinh sản liên quan đến lứa tuổi vị thành niên, bao gồm sức khỏe và dinh dưỡng, nhất là đối với vị 7 thành niên gái. Những hiểu biết về cách giữ gìn sức khỏe khi có thai, biến đổi của cơ thể trong giai đoạn phát triển quan trọng này của mỗi con người, phát triển hiểu biết về tình dục học và sức khỏe tình dục là những mặt quan trọng của SKSS trong suốt đời người.