Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề giới tính và giáo dục giới tính đã được xem xét từ lâu. Vào thời kỳ tiền khoa học người ta xem xét giới tính và GDGT theo quan điểm tôn giáo và đạo đức thời đó.
Vào thời kỳ này, việc GDGT cho trẻ em ít nhiều được chính thức hóa, người ta đã chú ý dạy dỗ cho các em gái theo mô hình giống bà và mẹ, còn dạy dỗ các em trai theo mô hình của ông và bố. Ở các nước phương Đông như Trung Quốc và Nhật Bản, người ta dạy trẻ em gái phải phục tùng bố mẹ trong hôn nhân theo kiểu “áo mặc sao qua khỏi đầu”, phải giữ gìn trinh tiết, quan hệ nam nữ tuân thủ nghiêm nghặt theo lời dạy “nam nữ thụ thụ bất thân”… Ở các nước phương Đông, người lớn hoàn toàn không nói đến cuộc sống tình dục với trẻ em.P MA-SƠ-LÔ-VA (Tiệp Khắc) đã nghiên cứu các vấn đề về giới tính cho rằng: ''Nhiều người trong chúng ta biết rằng không nên để con cái phải tự lần mò tìm hiểu lấy chuyện tình dục, song lại không biết hướng dẫn, tác động, không biết khi nào cần nói và nói như thế nào. Thế hệ trẻ ngày nay khác rất xa thế hệ chúng ta. Vì vậy phải dẫn dắt họ theo kiểu khác.”; “Mục đích của toàn bộ chương trình giáo dục tình dục từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành không chỉ là trang bị kiến thức, xây dựng ý thức tình dục mà điều quan trọng là xây dựng những quan niệm đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của người đàn ông và phụ nữ trong cuộc sống vợ chồng, trong gia đình và trong xã hội'' [25] Anh: Trẻ em bắt đầu được giáo dục giới tính khi còn mầm non.
Pháp luật Anh quy định rất rõ rằng trẻ khi đủ 5 tuổi sẽ bắt đầu học về giới tính một cách bắt buộc. Chương trình với tên gọi “Khóa học Nhà nước 7 yêu cầu” được áp dụng cho tất cả học sinh tại các trường công lập hay tư thục cho đến khi tốt nghiệp trung học cơ sở. Chương trình học được chia làm 4 phần tương ứng với 4 độ tuổi. Ngoài ra, Vương quốc Anh còn đang áp dụng phương pháp “giáo dục đồng cấp”.
Thông qua sự phát triển của việc giáo dục giới tính vị thành niên và việc sử dụng hình ảnh tương tác, phương pháp này được áp dụng nhằm hạn chế tệ nạn và tình trạng xâm phạm tình dục ở vị thành niên. Thuỵ Điển: Giáo dục giới tính qua truyền hình Thuỵ Điển là một trong những quốc gia tiên phong trong việc giáo dục giới tính cho trẻ em. Những chương trình giáo dục giới tính cho học sinh đã được Thuỵ Điển triển khai từ năm 1942. Một trong số đó là “Giáo dục phòng tránh thai” - chương trình giáo dục giới tính đầu tiên được công nhận tại một trường học.
“Giáo dục phòng tránh thai” được đưa vào giảng dạy cho trẻ em từ 7 tuổi trở lên nhằm trang bị cho các em những kiến thức cơ bản về mang thai và sinh con. Khi lên bậc trung học, các học sinh sẽ được học về đặc tính sinh lý của nam và nữ. Năm 1966, Thụy Điển đã chính thức đưa “Giáo dục phòng tránh thai” và nhiều hoạt động khác về giáo dục giới tính lên truyền hình, phá vỡ sự ngại ngùng cho phụ huynh khi trò chuyện với con em về vấn đề này. “Giáo dục phòng tránh thai” cung cấp đầy đủ kiến thức về phòng tránh thai cho các em ngay từ khi còn nhỏ.
Từ đó, các em sẽ biết cách tự bảo vệ mình để không bị lạm dụng về tình dục cũng như mang thai ngoài ý muốn. Mỹ: Giáo dục giới tính được phân theo các cấp học. Ở tiểu học, các em nhỏ được thầy cô giới thiệu sơ lược về những bộ phận nhạy cảm trên cơ thể và sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà. Ở cấp trung học cơ sở trở lên, kiến thức về giáo dục giới tính được nâng cấp lên đáng kể, trực diện và hướng dẫn chi tiết.
Học sinh được tìm hiểu 8 về tình dục, giới tính, các căn bệnh truyền nhiễm, việc mang thai… Tuy nhiên, cách mà người Mỹ dạy cho trẻ em còn lồng ghép cả nội dung giáo dục tính người: Biết quý trọng mạng sống và yêu quý người khác giới. Malaysia: Trẻ em sẽ học giới tính từ khi lên 4 Malaysia là một trong những quốc gia tiên phong tại khu vực Đông Nam Á về công tác phổ cập giáo dục giới tính cho trẻ em. Tương tự như Anh, Chính phủ Malaysia khuyến cáo trẻ em nên được giáo dục giới tính từ năm 4 tuổi. Chương trình học của các bé sẽ do Bộ Phát triển Phụ nữ, Gia đình và Cộng đồng, Bộ Giáo dục, những chuyên gia và các tổ chức phi chính phủ biên soạn.
Vừa qua, giáo án dự thảo dành cho môn giáo dục giới tính chung ở Malaysia đã được Nội các Chính phủ nước này phê duyệt. Điều này đồng nghĩa với việc giáo dục giới tính sẽ trở thành một môn học chính thức ở các trường học trong vòng 2 năm tới. Chương trình học này không chỉ dừng lại ở những kiến thức sinh sản cần thiết mà các học sinh sẽ được tham gia vào những khóa học về phát triển con người, hôn nhân và gia đình, kỹ năng giao tiếp và quan hệ tình dục an toàn. Hà Lan: Cả gia đình trò chuyện về giới tính trong bữa ăn Nếu như tại nhiều quốc gia khác, cha mẹ thường cảm thấy ái ngại và bối rối, không biết phải mở lời với các con như thế nào về chủ đề giới tính thì tại Hà Lan, chủ đề này được các gia đình đề cập đến rất thường xuyên trong những lúc quây quần bên nhau.
Bên cạnh đó, giáo dục giới tính được đưa vào giảng dạy ở Hà Lan từ rất sớm. Thậm chí, trẻ em bậc tiểu học ở nước này còn được học những bài học về tôn trọng những người chuyển đổi giới tính, lưỡng tính hay đồng tính. Có lẽ nhờ phương pháp giáo này mà Hà Lan luôn được ca ngợi là một trong những quốc gia đi đầu về giáo dục giới tính. Ngoài ra, Hà Lan còn là một trong những nước có tỉ lệ mang thai tuổi vị thành niên thấp nhất trên thế giới (khoảng 0,5%).
9 Ở châu Á, các quốc gia như Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc cũng có những chính sách về giảng dạy giới tính tại trường học. Malaysia, Philippines và Thái Lan thiên về giáo dục chi tiết sức khoẻ sinh sản trong khi Ấn Độ lại có chương trình với mục tiêu hướng tới trẻ em từ 9 tới 16 tuổi. Tại Nhật Bản, giáo dục giới tính là bắt buộc từ 10 hay 11 tuổi, chủ yếu đề cập tới các chủ đề sinh học như kinh nguyệt và xuất tinh. Tại Trung Quốc và Sri Lanka, giáo dục giới tính truyền thống là đọc về giai đoạn sinh sản trong các cuốn sách giáo khoa sinh học.
[9] Như vậy các vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm. Tuy cách thức tiến hành có khác nhau song đều hướng đến mục tiêu chung là kết hợp giáo dục những hiểu biết về giới tính, tình yêu, tình dục với giáo dục ý thức trách nhiệm đối với tình yêu, giáo dục đạo đức, xây dựng gia đình tốt đẹp, lành mạnh, phòng các loại bệnh liên quan đến giới tính như A. Makarenko đã nói: “Đạo đức xã hội đặt ra những vấn đề về giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên. Sinh hoạt giới tính của con người liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia đình tức là mối quan hệ gia nam và nữ, mối quan hệ dẫn tới mục đích hạnh phúc của con người và việc giáo dục con cái.
Khi giáo dục một con người không thể quên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó về giới tính”. Ông đã đưa ra nhiều ý kiến rất cụ thể về nội dung phương pháp giáo dục giới tính. Ông nói: “Các nhà giáo dục học Xô viết coi giáo dục giới tính và giáo dục về đời sống gia đình là một nội dung của giáo dục đạo đức chuẩn bị cho con người bước vào đời sống gia đình”. Những nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, vào khoảng năm 1980, vấn đề GDGT cho lứa tuổi vị thành niên vẫn còn bị ảnh hưởng bởi phong tục tập quán lâu đời và bị coi là điều “cấm kị”.
Rất nhiều người cảm thấy “xấu hổ” khó khăn khi nói về tình dục, giới tính. 10 Các thầy cô giáo, tổ chức Đoàn thanh niên và các tổ chức xã hội gần như chưa được trang bị kiến thức đầy đủ để có thể tham gia giáo dục hay tư vấn về các vấn đề giới tính cho học sinh, thậm chí lại có quan điểm là không nên nhồi nhét vào đầu óc trẻ thơ những điều không tốt. Chính những quan niệm bảo thủ trên đã làm cho trẻ kém hiểu biết về giới tính, phải đối mặt với những nguy cơ, rủi ro trong quan hệ tình dục không an toàn, về sự mang thai ngoài ý muốn. Từ năm 1984, khi chỉ thị 176A ngày 24 tháng 12 năm 1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trình chính khoá và ngoại khoá nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái.”; Bộ Giáo dục đã đưa ra Chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước, thì công tác GDGT cho học sinh, sinh viên được quan tâm hơn và tập trung cho đối tượng sinh viên ở các trường Đại học.
Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, về tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố. Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức… đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính. Nhiều công trình nghiên cứu về giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình, nhiều cuộc điều tra về tình yêu và đời sống hôn nhân gia đình đã được tiến hành từ năm 1985 đến nay, bước đầu làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh.