Chương I: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho hoc sinh tiêu học Chương 2: Thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiêu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT huyện Lệ Thuỷ, Tỉnh Quảng Bình Chương 3: Các biện pháp quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiêu học dân tộc Bru - Vân Kiều ở các trường PTDTBT huyện Lệ Thuỷ, Tỉnh Quảng Bình Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 1 CHUONG 1 CƠ SO LY LUAN VE QUAN LY HOAT DONG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SÓNG CHO HQC SINH TIEU HQC 1,1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ngày nay, do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu (năng lực thích ứng, năng lực hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội.) để thích ứng với thay đổi nhanh chóng của xã hội. Trên thế giới, việc nghiên cứu kỳ năng sống (KNS) đã được nhiều tô chức con người quan tâm và tìm hiểu, vì đây là một trọng điểm trong việc nghiên cứu và phát triển con người.
Theo đó, vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phô thông nói riêng được đông. đảo các nước quan tâm. Vi vậy, ngay từ những năm 90 của thế kỉ XX, các tô chức Liên Hợp Quốc (LHQ) như Qũy Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), hức văn hóa, khoa học và giáo dục của (UNESCO) và tổ chức y tế thế giới (WHO) đã chung sức để xây dựng chương trình GDKNS cho thanh thiếu niên. Bởi lẽ “Những thử thách mà trẻ em và thanh thiếu niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là kĩ năng đọc, vii nh toán tốt nhất” (UNICEF) [1], [24] ‘Theo WHO (1993) “Nang lực tâm lý xã hội là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
Đó cũng là khả năng của một cá nhân đề duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tỉnh thần, biểu hiện qua các hành vi phủ hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo. nghĩa rộng nhất về thề chất, tỉnh thần và xã hội. KNS là khả năng thê hiện, thực thi năng.
lực tâm lý xã hội này. Đó là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những. yêu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày [7], [8], [9], [10], [22], [36] Tại diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại Senegan (2000), Chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu 3 nói rằng, 12 “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp”, còn trong mục tiêu 6 yêu cầu “Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kĩ năng sống của người học”. Như vậy, giáo dục KNS cho người học đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng với giáo dục các nước.
Có thể nói ở các nước phương Tây, kĩ năng sống từ lâu đã được quan tâm. Thanh thiếu niên đã được học những kĩ năng sống về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện và đương đầu với những khó khăn, và cách vượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực. Tại Mỹ, năm 1989, Bộ lao động Mỹ đã thành lập Ủy ban thư ký về rèn luyện các kỹ năng cần thiết (The secretary`s comission on achieving necessary skills - SCANS). Mục đích của ủy ban này nhằm thúc day nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ nang cao và công việc thu nhập cao.
Họ khăng định rằng chỉ trang bị những kỹ năng cần thiết cho người lao động, đặc biệt là những kỹ năng để họ thích ứng, thì mới cải thiện được hiệu quả lao động. Những năm đầu thập niên 90 (thế kỷ XX), một số nước gần với Việt Nam trong khu vực Đông Nam A va ca Chau Á nói chung như: An Độ, Lào, Campuchia, Indonexia, Malaysia, Thái Lan,. việc nghiên cứu kỹ năng sống theo hướng áp dụng thử nghiệm rất được quan tâm, và triển khai chương trình dạy kỹ năng sống ở các bậc học phô thông từ mầm non cho đến Trung học phổ thông. Mục tiêu chung của giáo dục kĩ năng sống được xác định là: “Nhằm nâng cao tiềm năng của con người đề có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng yêu cầu, sự thay đôi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống”.
Với mục đích nhắm đến yếu tố cá nhân của người học, các nước cũng đã đưa ra cách thiết kế chương trình GDKNS với các hình thức, nội dung và các mức độ khác nhau. Điền hình như tại Ân Độ, kỹ năng sống được xem là khả năng giúp tăng, cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người. Kỹ năng sống (life skills) có thể hiểu bao gồm: kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, tư duy sáng. 13 tạo, giao tiếp, quan hệ liên nhân cách, ra quyết định, đàm phán, tự nhận thức, đối phó với stress và cảm xúc, từ chối, kiên định và hài hòa.
Tại Nepal, có thể thấy việc nghiên cứu về kỹ năng sống trên bình diện khái niệm rất được quan tâm. Kỹ năng sống được xem là một phương thức ứng phó hay là những kỹ năng cần thiết để tồn tại. Ngoài ra, nhiều nhà nghiên cứu rất quan tâm đến việc phân loại các kỹ năng sống, cũng như phân biệt các kỹ năng sống. Năm 1998, ở khu vực Đông Nam Á cũng như Đông Dương, việc giáo dục kỳ năng được ưu tiên một cách có trọng điểm.
Ở Lào (1997 - 2002), giáo dục kỹ năng sống được thực hiện với những nội dung cơ bản như: Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả; Kỹ năng tư duy sáng tạo; Kỹ năng giải quyết vấn đề. Tại Campuchia, giáo dục kỹ năng sống với vấn đề nỗi bật nhất là việc xác lập các kỹ năng cần huấn luyện cho từng lứa tuổi cũng như phương pháp hiệu quả. Kỹ năng sống được coi là năng lực mà con người cần phải có để nâng cao các điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia. Kỹ năng tìm việc và kiếm tiền để nuôi sống bản thân và gia đình là những kỹ năng sống quan trọng đối với thế hệ trẻ và người lớn [9], [10], [17].
Mặc dù giáo dục KNS cho học sinh đã được nhiều quốc gia quan tâm và cùng, xuất phát từ quan niệm chung về kĩ năng sống của WHO hoặc của UNESCO nhung ở mỗi quốc gia trên thế giới đều có sự khác biệt về quan niệm và nội dung, có nước thực hiện theo đúng chuẩn kĩ năng nhưng cũng có nước mở rộng thêm chứ không. bao hàm kĩ năng sống là những khả năng về tâm lý, xã hội. Những quan niệm, nội dung giáo dục KNS được triển khai vừa thể hiện nét chung vừa thể hiện nét đặc thù của từng quốc gia. Nhìn chung các quốc gia cũng mới bước đầu triển khai chương trình và biện pháp giáo dục kỹ năng sống nên chưa thật toàn diện và sâu sắc, vì chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng kĩ năng sống ở người học sau khi được trang bị hay huấn luyện KNS 'Từ những quan niệm trên cho thấy, KNS bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thé, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người.
Bản chất của KNS là kĩ năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Hay, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó. tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Các nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, trước những năm 1990, việc giáo dục rèn luyện kỹ năng sống.
cho thế hệ trẻ luôn là mục tiêu quan tâm của các nhà giáo dục Việt Nam. Mặc dù khái kỹ năng sống chưa được nêu ra hay những nghiên cứu về kỹ năng sống, chưa có. Tuy vậy, có thể dễ dàng nhận thấy vấn đề này được đề cập đến trong chương trình giáo dục của nước ta, như môn học Đạo đức, Giáo khoa thư. Bên cạnh đó có nhiều tác giả, dịch giả, học giả nghiên cứu và biên soạn ra những tài liệu, sách học làm người nhằm cung cấp cho mọi giới có thể học biết về cách làm người, cách đối nhân xử thế, phương pháp học tập, tổ chức đời sống cho khoa học,.
lên một số tác giả nổi danh: Nguyễn Hiến Lê với tác phẩm Đắc nhân tâm, Tô chức công việc theo khoa học; Hoàng Xuân Việt với tác phẩm “Rèn nhân cách”, “Nghệ thuật giao tiếp”; “Phép lịch sự” của Phạm Công Hoàn,. Những tài liệu này đã góp phan rat lớn trong việc trang bị những kỹ năng nhất định để sống, làm việc cho con người Việt Nam. Điều đó cho thấy việc nghiên cứu kỹ năng sống tuy chưa được gọi chính thức như nghiên cứu về kỹ năng sống nhưng đã được quan tâm dé cập đến nhiều. Tuy nhiên, thuật ngữ kỹ năng sống được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình của UINCEF (1996) “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do UNICEF phéi hợp với Bộ Giáo dục & Đào tạo cùng hội Chữ Thập đỏ Việt Nam thực hiện.
Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm kỹ năng sống ngày càng được mở rộng. Cho đến những năm trở lại đây, kỹ năng sống trở thành thuật ngữ được nhắc tới nhiều hơn bao giờ hết trong những câu chuyện về giáo dục khi Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” được triển khai và hưởng ứng mạnh mẽ trong các cấp học, ngoài việc nâng cao chất lượng giáo dục, các đơn vị trường. học ngày càng chú trọng tới công tác giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh, đặc biệt là học sinh phổ thông.