Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC LỐI SỐNG VĂN HÓA CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TIỂU HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Phạm trù “lối sống” được C.Ăngghen nêu lên trong “Hệ tư tưởng Đức”, một trong những tác phẩm đầu tiên cùng viết của hai ông. Max Weber (1864-1920), nhà xã hội học Đức là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “lối sống” như một khái niệm khoa học trong công trình nghiên cứu xã hội học Nhiều vấn đề có liên quan đến phạm trù “lối sống” cũng được các nhà xã hội học phương Tây như: Tony Bilton, Kenvin, Bonnett, Philip Jones, Ken Sheard, Michelle Stan Worth và Andrew đề cập đến Vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX, ở Liên Xô và các nước XHCN trước đây, lý thuyết “Lối sống Xô Viết” hay là “Lối sống XHCN Xô Viết” phát triển mạnh mẽ.
Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu lối sống theo hai khuynh hướng khác nhau: khuynh hướng xã hội triết học (về mặt bản chất, cấu trúc và các chức năng xã hội của lối sống). Có thể kể đến: V.Butenko,… và khuynh hướng khoa học chuyên ngành (kinh tế học, tâm lý học, giáo dục học) Vấn đề lối sống theo pháp luật cũng được các tác giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Chẳng hạn, sách tham khảo “Lối sống xã hội chủ nghĩa - Những vấn đề nhà nước pháp luật” [20] đề cập tới lối sống xã hội chủ nghĩa và ảnh hưởng của nhà nước và pháp luật tới lối sống; sách tham khảo “Lối sống - khái niệm, hiện thực, các vấn đề” [30] bàn về khái niệm lối sống và các biểu hiện cụ thể của lối sống trong đời sống hiện thực cũng như các vấn đề đặt ra cần nghiên cứu, giải quyết. 6 Nhìn chung những nghiên cứu về lối sống của các tác giả nước ngoài theo nhiều chiều hướng hoặc chủ yếu có tính lý thuyết, hoặc chú ý những số liệu điều tra xã hội học từng mặt cụ thể của lối sống.
Việc nghiên cứu bản chất của lối sống văn hoá chưa thực sự được quan tâm 1. Ở Việt Nam Vào những năm 80 của thế kỷ XX đã xuất hiện những công trình có tính lý luận về lối sống của các tác giả: Vũ Khiêu, Hà Xuân Trường, Phong Châu, Nguyễn Trọng Thụ, Lê Như Hoa, Đỗ Huy,… Vào những năm 90 của thế kỷ XX có nhiều công trình nghiên cứu về lối sống của thế hệ trẻ với nhiều khía cạnh khác nhau của các tác giả: Đỗ Long, Trần Thị Tố Oanh, Đặng Thuý An, Trần Thị Minh Đức, Văn Hùng, Lê Đức Phúc,… Đặc biệt là hai đề tài của tác giả Mạc Văn Trang và Nguyễn Quang Uẩn đã phác hoạ được bức tranh toàn cảnh về lối sống của HS, sinh viên. Đề tài cấp Nhà nước, nghiên cứu về lối sống và môi trường, mã số KX.06 - 13 được nêu khái quát trong “Báo cáo tổng kết chương trình nghiên cứu về văn hóa, văn minh, mã số KX - 06 (1991 - 1995)” như sau: “Lối sống, trong một chừng mực nhất định, là cách ứng xử của những người cụ thể của môi trường sống. Môi trường là cái khách quan quy định, là điều kiện khách quan trực tiếp tác động và ảnh hưởng đến lối sống của con người, của các nhóm xã hội và cộng đồng dân cư” [27, tr.
Định nghĩa này tiếp cận lối sống như một phương thức ứng xử thực tế của con người trong một môi trường nhất định. Trong nhưng năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến văn hóa lối sống, như bàn luận về lối sống, nếp sống, đạo đức chuẩn giá trị xã hội. Tác giả Thành Lê trong cuốn “Văn hoá và lối sống” đã đề cập đến những điều bàn về lối sống, nếp sống, mức sống của người Việt Nam. Từ đó tác giả nêu lên giá trị của văn hoá đối với lối sống hiện nay là ủng hộ cái đẹp, phê phán cái xấu, hướng tới chân - thiện - mỹ.
[19] 7 Trong tác phẩm “Cơ sở văn hoá Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm đã xem xét văn hoá khởi đầu từ các điều kiện vật chất quy định và định vị văn hoá Việt Nam, qua đó nhận thức được cái tinh thần là văn hóa nhận thức và văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng, để rồi cái tinh thần đó lại tác động trở lại đời sống vật chất hình thành nên cách thức ứng xử giao lưu với môi trường tự nhiên và xã hội. [25, tr 16-17] Tác giả Đỗ Huy, Chu Khắc, Vũ Khắc Liên, Trường Lưu, Lê Quang Thiêm (đồng chủ biên) với tác phẩm “Nhân cách văn hoá trong bảng giá trị Việt Nam” đã tập trung làm rõ những đặc điểm, thuộc tính tâm lý của các cá nhân biểu đạt cho những giá trị cơ bản trong bảng giá trị Việt Nam và cũng góp phần vào việc hình thành nhân cách văn hoá, ứng xử văn hoá của người Việt Nam. Đây là cơ sở để tạo nên nét đặc trưng của LSVH ở người Việt. [16] Một số công trình đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của lối sống nói chung, trong đó tập trung chủ nghiên cứu lối sống theo pháp luật.
Chẳng hạn như: “Xây dựng lối sống theo pháp luật những vấn đề cần quan tâm” của Lê Vương Long, Tạp chí Luật học, số 4, năm 1997 [21]. Luận văn thạc sĩ luật học “Lối sống theo pháp luật trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Bích Hồng [14]. “Xây dựng ý thức pháp luật và lối sống theo pháp luật” của Nguyễn Khắc Bộ, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10, năm 2006 [8]. Đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước:“Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật”, do Đào Trí Úc làm chủ nhiệm [28].
Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đều đã đi nghiên cứu và làm rõ về LSVH, những biểu hiện của LSVH. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu sâu về QL HĐ GDLSVH cho HS, đặc biệt là HS TH ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn. Vì vậy, tôi đi sâu nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục lối sống văn hóa cho học sinh các trường Phổ thông dân tộc Bán trú Tiểu học huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang”. Những khái niệm công cụ 1.
Quản lý Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động khi xã hội phát triển, quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển các hoạt động xã hội, xã hội loài người trải qua nhiều chế độ chính trị xã hội khác nhau, mỗi chế độ khác nhau, có một phương thức sản xuất khác nhau, phương thức sản xuất sau phát triển hơn phương thức sản xuất trước, con người thế hệ sau tiến bộ và văn minh hơn thế hệ trước, nó kéo theo trình độ quản lý ngày càng cao làm cho năng suất lao động ngày càng tăng, làm cho xã hội ngày càng phát triển tiến bộ. Vậy quản lý là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển của loài người. Quản lý là một dạng lao động đặc biệt điều khiển các hoạt động lao động, nó có tính khoa học và nghệ thuật cao, nhưng đồng thời nó là sản phẩm có tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội. Theo yếu tố chính trị xã hội: Quản lý còn là sự kết hợp giữa tri thức với lao động, quản lý còn được xem là tổ hợp các cách thức, phương pháp tác động vào đối tượng để phát huy khả năng của đối tượng nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
- Theo yếu tố hành động: Quản lý là quá trình điều khiển, chủ thể quản lý điều khiển đối tượng quản lý để đạt tới mục tiêu đặt ra. - Thuật ngữ quản lý (từ Hán Việt) nêu rõ bản chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó gồm hai mặt tích hợp vào khâu từ “Quản” và từ “Lý”. - “Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “Lý” là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển.
Như vậy “Quản lý” là sự trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển. - Có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nội dung, thuật ngữ “quản lý” có thể nêu một số định nghĩa như sau: Theo nhóm tác giả Harold Koontz - Cyric Odonnell - Heinz Weihrich cho rằng “Quản lý là hoạt động đảm bảo sự nỗ lực của cá nhân để đạt được mục 9 tiêu quan trọng điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài liệu, vật liệu, ít nhất và đạt được kết quả cao nhất”. [12, tr 32] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại cho rằng “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định”. [23, tr 24] Theo Trần Kiểm “Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”.
[17, tr 32] Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý, tạo ra sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống hướng vào mục tiêu nhất định. Quản lý sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đề ra và đúng ý trí người quản lý Như vậy có thể xem quản lý là một quá trình tác động có mục đích có kế hoạch nhằm gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, thông qua cơ chế quản lý, nhằm đạt được mục đích của quản lý. Từ những quan niệm của các tác giả nêu trên về quản lý, chúng ta có thể hiểu rằng: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng phù hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác và tận dụng hiệu quả những tiềm năng và cơ hội của đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu quản lý”. Lối sống, lối sống văn hóa 1.
Lối sống Hiện nay, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về phạm trù lối sống, tùy theo góc tiếp cận, mục đích nghiên cứu. Khi tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn chuyên ngành Xã hội học, tác giả Đôbơrianốp cho rằng: “Lối sống là sinh hoạt cá nhân , chủ quan hóa của hệ thống những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những điều kiện sống thể hiện trong hoạt động của con người” [29, tr.