Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Ngay từ đầu thế kỷ XX nhu cầu GDGT bắt đầu được chú ý và đề cao. Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu vấn đề này một cách nghiêm túc, khoa học.
Ở Nga, những công trình nghiên cứu từ năm 1903 đến 1904 cuả D.Iakovenko mang tên “cuộc điều tra tính dục” đã được tiến hành trong sự cấm đoán của Nga Hoàng. Trên 6000 bản điều tra được phát ra nhưng đa số bị cảnh sát tịch thu, chỉ còn 324 bản và công trình nghiên cứu được công bố năm 1922 [14].Kon khẳng định: “ Chuẩn bị cho nam nữ thanh niên bước vào cuộc sống gia đình đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống GD đạo đức và GDGT” [16, tr. Năm 1921, tại Mỹ một uỷ ban liên ngành được thành lập để nghiên cứu các vấn đề tính dục. Ủy ban này đã hỗ trợ cho H.Kingsey cùng các cộng sự của ông nghiên cứu một cách khá toàn diện và khoa học trên quy mô rộng về các định hướng tâm lý tính dục và hành vi của con người.
“Bản phúc trình của H.Kingsey” đã được biên soạn dựa trên những tài liệu phong phú của trên mười ngàn cuộc điều tra khoa học khác nhau, đã được nhiều người biết đến. Một số công trình nghiên cứu về vấn đề xâm hại tình dục trẻ em được nhiều người quan tâm. Có thể kể đến một số tác giả sau: Tác giả O’Grad Ron trong cuốn sách “lạm dụng tình dục trẻ em – nỗi phẫn uất của cộng đồng: Hưởng ứng chương trình quốc tế phòng chống tệ nạn xã hội” năm 1995 đã đề cập tới các vấn đề về: nạn 8 Luan van mại dâm trẻ em, trẻ em làm nô lệ, bị bán qua biên giới, nguy cơ lan truyền AIDS… góp thêm một tiếng chuông cảnh báo, kêu gọi sự quan tâm và huy động sự nỗ lực của toàn xã hội cho cuộc đấu tranh nhằm ngăn chặn và diệt trừ tệ nạn lạm dụng tình dục trẻ em đang có nguy cơ biến thành thảm họa [13].Zwi đã tiến hành nghiên cứu “Chương trình nền tảng GD về phòng chống lạm dụng tình dục trẻ em” năm 2007 với 5802 HS tiểu học và trung học ở Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc, Đức, Tây Ban Nha, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ. Nội dung chương trình phòng chống lạm dụng tình dục trẻ em bao gồm giảng dạy về quy định an toàn, các bộ phận riêng tư, sở hữu thân thể giúp trẻ phân biệt được đâu là vùng đụng chạm an toàn, đâu là vùng riêng tư.
Chương trình sử dụng phối hợp rất nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau như diễn tập, thực hành, đóng vai, thảo luận và thông tin phản hồi. Kết quả cho thấy các chương trình phòng chống lạm dụng tình dục trong trường học có hiệu quả trong việc phát triển kỹ năng của HS trong hành vi và kiến thức về các khái niệm phòng chống lạm dụng tình dục, tăng kiến thức và kiến thức không bị mất đi đáng kể từ một đến sáu tháng sau khi can thiệp [37]. Trong cuốn sách: “Protecting the Gift – keeping Children and Teenagers Safe (and Parents Sane)” [36] ( Giúp trẻ em và thiếu niên an toàn) của tác giả Gavin De Becker thuộc bản quyền của nhà xuất bản Dell, New York. Cuốn sách chia sẻ cái nhìn sâu sắc, những giải pháp thiết thực giúp cha mẹ hướng dẫn trẻ biết tự bảo vệ mình trước những tình huống nguy hiểm: Cha mẹ làm thế nào để nhận biết con của mình bị lạm dụng tình dục; làm thế nào để nhận diện một kẻ lạm dụng tình dục và cách để cải thiện sự an toàn cho trẻ … Cuốn : “Raising the kids who can protect themselves” (Nuôi dạy những đứa trẻ có thể tự bảo vệ mình) của tác giả Debbie và Mike Gardnert thuộc bản quyền của công ty Mc Graw Hill, Mỹ [35].
Hai tác giả đã chia sẻ cho chúng ta phương pháp dạy trẻ xác định và thoát khỏi những tình huống nguy hiểm; cách nhận dạng những đặc điểm vị trí thoát hiểm cụ thể từ sân chơi đến những nơi mua sắm; và trẻ 9 Luan van làm thế nào có được những quyết định thông minh về sự bảo vệ an toàn cho bản thân khi không có người lớn bên cạnh. Cuốn sách “ Bí kíp dạy con từ 9-12 tuổi” của Suzanne Vallieres, NXB Trẻ, do Nguyễn Thị Kim Anh dịch, đã giúp cho các bậc làm cha mẹ biết dạy con đúng cách và tạo ra được những đứa con ngoan và hạnh phúc. Cuốn: “ A book for everyboy” (Cẩm nang con trai) của tác giả Violeta Babic do Ánh Tuyết biên dịch, thuộc nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh [19] đã đưa ra và giải quyết những vấn đề, những tình huống giúp cho các bé trai nhận biết được sự thay đổi của cơ thể mình, học được cách vệ sinh cá nhân, tạo thói quen ăn uống, có lối sống lành mạnh, biết chăm sóc và yêu quý bản thân. Cùng tác giả Violeta Babic, cuốn: “ A book for everygirl” ” (Cẩm nang con gái) do Thanh Giang biên dịch, NXB Tổng hợp TP.
Hồ Chí Minh [20] trang bị cho các bé gái một số thông tin, kiến thức về cơ thể giai đoạn sắp dậy thì và dậy thì để các em yên tâm, tự tin, có tâm thế đón nhận và cảm thấy “lớn lên không đáng sợ chút nào”. Bộ sách “ Con có thể tự bảo vệ mình” gồm 3 cuốn: “Cơ thể con là của con”; “Con không bao giờ đi cùng người lạ” và “Con không bao giờ đi lạc”, xuất bản tháng 8/2017 – NXB Thế giới của tác giả Dagma Geisler do Bùi thị Phương Nhung dịch, đã đề cập đến những tình huống rất đời thường và phổ biến trong cuộc sống để thông qua đó hướng dẫn các bậc phụ huynh và các con tự xây dựng những nguyên tắc thống nhất để hơn ai hết là các con có thể tự bảo vệ được bản thân mình. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên thế giới có cái nhìn đa dạng về GDGT. GDGT cũng là nội dung được đề cập đến ở rất nhiều quốc gia với mức độ kiến thức, nội dung, phương pháp phù hợp với các độ tuổi khác nhau.
Ở châu phi: GDGT tập trung trên việc ngăn chặn sự lây truyền bệnh dịch AIDS. 10 Luan van Ở Mỹ, việc GDGT lại được phân theo các cấp học. Ở tiểu học, các em nhỏ được thầy cô giới thiệu sơ lược về những bộ phận nhạy cảm trên cơ thể và sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà [46]. Ở Châu Âu: Tại Pháp, các chương trình GDGT trong nhà trường đã có từ năm 1973.
Tại Đức, chương trình GDGT trong trường học có sớm hơn, từ năm 1970, bao gồm các vấn đề như dậy thì, sự thay đổi tâm sinh lý của tuổi mới lớn, hoạt động tình dục, phòng tránh thai và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, thế nào là lạm dụng tình dục [40]. Ở châu Á, các quốc gia như Mông Cổ, Hàn Quốc cũng có những chính sách về giảng dạy GT tại trường học. Ấn Độ có chương trình với mục tiêu hướng tới trẻ em từ 9 tới 16 tuổi. Tại Nhật Bản, GDGT là bắt buộc từ 10 hay 11 tuổi, chủ yếu đề cập tới các chủ đề sinh học như kinh nguyệt và xuất tinh.
Ngay các nước Đông Nam Á [14] như: Thailand, Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines … cũng đã thực hiện nội dung GDGT. Tóm lại, mặc dù trên thế giới việc triển khai GDGT ở các nước diễn ra không đồng đều nhưng nhìn chung đến nay, phần lớn các nước đều ý thức được tầm quan trọng của GDGT đối với thế hệ trẻ và đã triển khai ở nhiều mức độ khác nhau, thậm chí nhiều nước đã triển khai GDGT cho trẻ ngay từ bậc mầm non và xem đó là phần bắt buộc. Các nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, những năm đầu của thập kỷ 1980, vấn đề GDGT cho lứa tuổi vị thành niên vẫn còn bị ảnh hưởng bởi phong tục tập quán lâu đời và bị coi là điều “cấm kỵ”, nhiều người cảm thấy “xấu hổ”, khó khăn khi nói về tình dục, GT. Thế nhưng từ năm 1984, khi có chỉ thị 176A ngày 24/12/1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nêu rõ: “ Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chương trình chính khóa và 11 Luan van ngoại khóa nhắm bồi dưỡng cho HS những kiến thức khoa học về GT, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái” thì công tác GDGT cho HS, SV được quan tâm hơn.
Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về GT, tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố. Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thủy. Phạm Hoàng Gia, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức… đã NC nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của GT và GDGT. Nhiều công trình nghiên cứu về GT, tình yêu, hôn nhân gia đình, nhiều cuộc điều tra về tình yêu và đời sống hôn nhân gia đình đã được tiến hành từ năm 1985 đến nay, bước đầu làm cơ sở cho việc GDGT cho thanh niên và học sinh.
Những công trình này đã nêu lên nhiều vấn đề phong phú đa dạng, về vấn đề GT và GDGT ở Việt Nam [14]. Tiếp theo đó là các công trình nghiên cứu [1] như: Giáo dục giới tính và đời sống gia đình (VIE.P09 có mục tiêu là GDGT và GD đời sống gia đình, nhưng chỉ đặt ra ở các lớp thuộc bậc THPT. Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản (VIE 97. GDGT được đề cập đến trong mối quan hệ với GD sức khỏe sinh sản và GD dân số.
GD lối sống lành mạnh trong quan hệ với người khác giới ( đề tài hợp tác giữa viện KHGD và cục phòng chống các tệ nạn xã hội – Bộ LĐ – TB –XH), để GD phòng xa, ngăn ngừa các em sa vào tệ nạn mại dâm, nhưng mới chỉ ở mức độ xác định những nội dung GD có thể khai thác qua các môn học theo chương trình chưa đổi mới. GDGT cho HS phổ thông thông qua hoạt động ngoại khóa (Tiểu dự án hợp tác giữa Viện KHGD với Quỹ nhi đồng Anh), nằm trong khuôn khổ của dự án “Can thiệp phòng chống HIV cho vị thành niên” nhằm giúp cho các em biết sống lành mạnh, có trách nhiệm trong quan hệ giới tính. Những nghiên cứu này đã phân tích sự cần thiết phải trang bị cho HS phổ thông những hiểu biết về GT, SKSS, bình đẳng giới và quan hệ lành mạnh giữa hai 12 Luan van giới.