mở đầu cho một nền giáo dục tốt” [26]. Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 11/01/1979 của Bộ Chính trị khoá IV về cải cách giáo dục nêu rõ mục tiêu “Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi ấu thơ cho tới lúc trưởng thành, nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của con luan an 7 người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể và phát triển toàn diện” [6]. Cải cách toàn diện nền giáo dục là một yêu cầu rất cần thiết và cấp bách và là nhu cầu thực tiễn đặt ra vào thời điểm đó. Theo Điều 23, Luật Giáo dục năm 2005 nêu rõ “Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một”.
Trong đó, “Nội dung GDMN phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn; biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo và người trên; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học. Phương pháp GDMN chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện; chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ” [56]. Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 23/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Phát triển GDMN giai đoạn 2006 – 2015” đã nhấn mạnh “Xây dựng và triển khai chương trình GDMN mới theo hướng tích hợp các nội dung chăm sóc, giáo dục theo chủ điểm, tổ chức các hoạt động cho trẻ, đặc biệt là hoạt động vui chơi phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi và yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ” [68]. Dựa trên nội dung của Luật Giáo dục năm 2005 và Quyết định số 149/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009 về chương trình GDMN xác định “Đối với giáo dục mẫu giáo, phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học bằng chơi”.
Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ” [8] nghĩa là khi lựa chọn, tổ chức các TCVĐ phải gắn với đặc điểm tâm sinh lý, phù hợp với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu và hứng thú của trẻ. Theo Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 ngày 13/06/2012 của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ “Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trước 6 tuổi, tạo luan an 8 cơ sở để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ. Đến năm 2020 hầu hết trẻ em đều được chăm sóc, giáo dục bằng những hình thức thích hợp” [69]. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định và nêu rõ các quan điểm về giáo dục, đào tạo, trong đó nhấn mạnh “Đối với GDMN, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp một.
Hoàn thành phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non. Phát triển GDMN dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục” [18]. Chỉ thị số 2699/CT-BGDĐT ngày 08/8/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2017 – 2018 của ngành Giáo dục, theo đó phương hướng chung đối với GDMN là “tiếp tục đổi mới hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” [11].
Tại Điều 23, Luật Giáo dục năm 2019 nêu rõ “GDMN là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi. GDMN nhằm phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một” [55]. Chăm lo giáo dục phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong đào tạo nguồn nhân lực tương lai của đất nước. Trong đó, GDTC và thể thao trường học được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm nhất là GDMN.
Với hệ thống các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết, quyết định,… của Đảng và Nhà nước đã hoàn thiện, đồng bộ, có tính thống nhất, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai thực hiện trong thực tiễn. Lý luận về hoạt động giáo dục thể chất của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 1. Hoạt động giáo dục thể chất 1. Định nghĩa Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người (chủ thể) với thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người.
Trong một hoạt động bao giờ cũng diễn ra hai quá trình cơ bản là quá trình khách thể hóa (chủ thể chuyển tâm lý vào trong sản phẩm) và quá trình chủ thể hóa (trong quá trình tác động vào thế giới, con người lĩnh hội được nội dung tâm lý chứa đựng trong đối tượng, làm cho con người có nhận thức mới – năng lực hoạt động mới) [61]. Theo Corbin và các cộng sự thì hoạt động thể chất được định nghĩa là “sự vận động cơ thể làm gia tăng đáng kể sự tiêu hao năng lượng, được thực hiện thông qua việc co các cơ xương” [91]. Tương tự, theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, hoạt động thể chất “là các vận động cơ thể có sử dụng năng lượng” [98]. Như vậy, hoạt động thể chất chỉ đơn thuần đề cập đến sự vận động cơ thể mà không có mục đích từ trước; hạn chế trong việc sử dụng phương pháp, phương tiện khi hoạt động, đồng thời không có vai trò rõ ràng của nhà giáo dục và người được giáo dục, không gắn liền với hoạt động đánh giá.
Điều này chính là điểm khác biệt cơ bản giữa hoạt động thể chất và hoạt động GDTC. Có thể thấy, thuật ngữ “giáo dục thể chất” thường đi kèm với thuật ngữ “hoạt động”. Do đó, phần lớn các tác giả thường định nghĩa “hoạt động GDTC” gọi tắt là GDTC như sau: - Theo tác giả Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn thì “Hoạt động GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người. Tổng hợp quá trình đó xác định khả năng thích nghi thể lực của con người.
GDTC được chia thành hai mặt riêng biệt, dạy học động tác và giáo dục các tố chất vận động” [76]. - Theo Bộ Giáo dục New Zealand: “ oạt động GDTC bao gồm các hoạt động có sự vận động về cơ thể mà một người nào đó tham gia dưới một sự huấn luyện cụ thể” [94]. - Theo Rico Meneghini, “Hoạt động GDTC, một phần không thể thiếu trong quá trình giáo dục tổng thể, là một lĩnh vực hướng đến việc phát triển các công dân luan an 10 có sức khỏe về thể chất, tinh thần, và cảm xúc xã hội thông qua việc sử dụng các hoạt động thể chất được chọn lọc nhằm đạt được các mục tiêu này” [95]. - Trường Britannica, hoạt động GDTC là thuật ngữ dùng để chỉ bất kỳ một hoạt động tiêu hao năng lượng nào được tạo ra bởi các yêu cầu của nhà giáo dục trong đó có chuyển động cơ thể thông qua các cơ xương.
Theo định nghĩa này, hoạt động GDTC bao gồm toàn bộ phạm vi hoạt động được yêu cầu từ các mức hoạt động thể chất rất thấp khi nghỉ ngơi đến các hoạt động sử dụng sức tối đa [90]. - Tác giả Nguyễn Nam, hoạt động GDTC là hình thức giáo dục được đào tạo một cách bài bản có hệ thống. Trong đó các môn học chủ yếu là dạy học sinh, sinh viên vận động thông qua các động tác có nhịp điệu nhằm khai thác các tố chất vận động tiềm ẩn bên trong con người. Qua đó để xác định được những khả năng thích nghi thể lực của con người, cải thiện sức khỏe tinh thần.
- Theo Nguyễn Thanh Đề, hoạt động GDTC không chỉ là hoạt động dạy học sinh xếp hàng, đội hình đội ngũ, mà còn là bộ môn chuyên biệt, dạy học vận động và phát triển có chủ đích các tố chất của con người. GDTC là một yếu tố không thể thiếu trong các yếu tố: đức, trí, thể, mĩ nhằm phát triển con người cân đối, toàn diện [44]. - Tác giả Lâm Tuyết Thúy, hoạt động GDTC là một quá trình sư phạm nhằm hoàn thiện hình thái, chức năng cơ thể con người. Đặc điểm nổi bật của hoạt động GDTC là quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực [72].
Xuất phát từ định nghĩa hoạt động và các định nghĩa về hoạt động GDTC, nghiên cứu xác lập định nghĩa hoạt động GDTC như sau: “Hoạt động GDTC là sự tác động qua lại giữa nhà giáo dục và người được giáo dục, trong đó người giáo dục tổ chức và điều khiển hoạt động của người được giáo dục nhằm phát triển các vận động cơ bản và các tố chất vận động tạo ra sự phát triển thể chất”. Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động GDTC Hai nhiệm vụ cơ bản của hoạt động GDTC là giúp người được giáo dục phát triển các hoạt động vận động cơ bản (dạy học động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người. Do đó, GDTC được chia thành hai mặt riêng biệt là dạy học động tác và giáo dục các tố chất vận động. Tùy vào yêu cầu của từng cấp học, chương trình học sẽ tập trung vào từng nhiệm vụ cụ thể nêu trên.