CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI TRONG CHỦ ĐỀ GIAO THÔNG 1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Tổ chức Trong Từ điển Tiếng Việt, “tổ chức” là sắp xếp các bộ phận cho ăn nhịp với nhau để toàn bộ là một cơ cấu nhất định [31]. Có thể hiểu rằng, “tổ chức” là sự sắp xếp và bố trí các công việc, tiến hành một hoạt động nào đó một cách hợp lý trong các điều kiện nhất định để hoạt động đạt được hiệu quả cao nhất.
Trong tổ chức bao hàm cả sự hướng dẫn, chỉ bảo, dẫn dắt cho biết phương hướng, cách thức tiến hành một hoạt động cụ thể. Trò chơi Đối với trẻ mẫu giáo, đang ở độ tuổi hoạt động vui chơi là chủ yếu. Trò chơi có ý nghĩa rất to lớn trong sự hình thành nhân cách và giáo dục toàn diện cho trẻ. Có rất nhiều nghiên cứu nhìn nhận trò chơi dưới nhiều khía cạnh khác nhau như: Theo Uxova A.P: “Chơi là hoạt động mà động cơ của nó nằm trong quá trình chơi chứ không phải nằm trong hiệu quả hoạt động, khi chơi trẻ không chú tâm vào một lợi ích thiết thực nào cả, trong trò chơi các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và với xã hội được mô phỏng lại, chơi mang lại cho trẻ trạng thái tinh thần vui vẻ, phấn chấn, dễ chịu” [28].
Quan điểm giáo dục học, khẳng định: “Trò chơi là cuộc sống, là hoạt động chủ đạo của trẻ và nó mối quan hệ qua lại với các hoạt động khác như học tập và lao động của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo. Các nhà giáo dục đánh giá cao vai trò của hoạt động chơi và đều thống nhất cho rằng: Trò chơi là phương tiện giáo dục, là hình thức tổ chức cuộc sống của trẻ và giữ vị trí trung tâm trong chương trình giáo dục trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo” [10]. Từ những quan điểm trên, ta có thể định nghĩa trò chơi như sau: Trò chơi là một hoạt động tự nhiên và cần thiết nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người. Trò chơi được xem như là con đường giáo dục toàn diện đối với việc hình thành 8 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 nhân cách con người.
Nó mang lại trạng thái thư giãn, vui vẻ và dễ chịu… cho mỗi cá nhân khi tham gia vào trò chơi. Trò chơi học tập Ở trường mầm non, giáo viên dạy trẻ thông qua các hoạt động, phương pháp và phương tiện khác nhau. Trong đó, đối với trẻ mẫu giáo, trò chơi học tập được coi là một phương tiện không thể thiếu trong quá trình giúp trẻ hình thành, phát triển các năng lực trí tuệ. Đồng thời, bồi dưỡng và phát triển các khả năng: chú ý, ghi nhớ và tưởng tượng.
Việc sử dụng hợp lí biện pháp tổ chức TCHT phù hợp với nhu cầu vui chơi của trẻ sẽ có tác dụng nâng cao hứng thú và khả năng chú ý có chủ định, phát triển tính tích cực của trẻ trong học tập. TCHT đẩy mạnh sự phát triển của năng lực trí tuệ, là phương tiện khắc phục những mặt khó khăn trong hoạt động tư duy của từng trẻ. Trong quá trình tổ chức các TCHT, quá trình tâm lí, nhận thức của trẻ được hoàn thiện thêm. Trò chơi với những bức tranh và trò chơi bằng ngôn ngữ giúp trẻ thực hiện, hoàn thiện các thao tác tư duy như: so sánh, tổng hợp, khái quát.
Có thể nói, hầu hết các TCHT hướng tới việc hệ thống hóa kiến thức, hình thành tri thức mới, được coi là một phương tiện tổ chức hoạt động học cho trẻ mẫu giáo và tham gia vào thành phần của tiết học [12]. Tác giả Trần Thị Sinh và Điền Thị Sinh cho rằng: “TCHT là loại trò chơi có luật tiêu biểu. Nó gián tiếp giải quyết các nhiệm vụ của trí dục: lĩnh hội kỹ năng về ngôn ngữ, chính xác hóa các biểu tượng, các khái niệm đơn giản. Nhóm tác giả Trần Thị Trọng, Nguyễn Thị Mai Hà, Trần Thị Tuất, Trần Thị Thanh cũng cho rằng: “TCHT là trò chơi có luật được đặt ra nhằm mục đích củng cố những kiến thức mà cô đã dạy cho trẻ” [25].
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng “TCHT thực chất là trò chơi rèn trí tuệ. Đó là những trò chơi nhằm phát huy trí tuệ của trẻ em, dạy cho các cháu biết quan sát, tính toán. Có khi chỉ là bài đồng dao, trẻ em ngồi quây quần với nhau cùng hát, cùng đối thoại để giới thiệu các sự vật xung quanh mình, tiếp thu tri thức về cuộc sống. Có khi lại là một trò chơi bày cách tính toán hẳn hoi, như trò chơi “Ô ăn quan” tập cho trẻ biết cách làm phép trừ, phép cộng hoặc như trò chơi “Chuyền thẻ” rõ ràng đây là một bài học đếm từ 1 đến 10, giúp phát triển trí tuệ cho trẻ” [26].
9 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 Từ những điều trên, các nhà nghiên cứu về trò chơi, đặc biệt là về sự phân loại trò chơi của trẻ em mẫu giáo cho phép khẳng định, trò chơi học tập thuộc nhóm trò chơi có luật, thường do người lớn nghĩ ra cho trẻ chơi và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học, hướng tới việc phát triển hoạt động trí tuệ cho trẻ. Phát triển Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của sự vật, hiện tượng mới. Theo từ điển Hoàng Phê thì “phát triển” được hiểu là: biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp 1. Vốn từ Vốn từ là tập hợp các từ trong một ngôn ngữ mà người đó quen thuộc (biết tới).
Vốn từ vựng thường xuyên tăng lên theo tuổi tác và là công cụ cơ bản và hữu dụng trong giao tiếp và thu nhận kiến thức [32]. Phát triển vốn từ Phát triển vốn từ được hiểu như một quá trình lâu dài của việc lĩnh hội vốn từ mà con người đã lĩnh hội được trong lịch sử. Nó bao gồm hai mặt: tích lũy số lượng (tăng dần số từ tích cực) và nâng cao chất lượng (lĩnh hội dần dần nội dung xã hội tích luỹ trong từ, nó là sự phản ánh kết quả của nhận thức) [20]. Tác giả Nguyễn Thị Phương Nga cho rằng: “PTVT cho trẻ là hoạt động có chủ đích, có kế hoạch, nhằm giúp trẻ lĩnh hội vốn từ có hiệu quả” [1-17].
PTVT cho trẻ được hiểu như là một quá trình lâu dài trẻ tích lũy vốn từ, hiểu nghĩa của từ và hình thành cách sử dụng từ trong các ngữ cảnh giao tiếp khác nhau. Trẻ lĩnh hội nghĩa của từ khi từ được sử dụng trong câu, trong lời nói. Vì vậy, việc PTVT cần thực hiện chặt chẽ với việc phát triển lời nói mạch lạc. Một mặt, lời nói tạo điều kiện cho trẻ lựa chọn từ ngữ có nghĩa phù hợp; mặt khác vốn từ là cơ sở cho ngôn ngữ mạch lạc.
Như vậy, PTVT cho trẻ là quá trình cung cấp vốn từ về mặt số lượng, giúp trẻ hiểu nghĩa của từ và biết dùng từ phù hợp trong ngữ cảnh giao tiếp [6]. 10 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail. Chủ đề Giao thông Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng của Nguyễn Như Ý, “chủ đề” là đề tài được chọn làm nội dung chủ yếu trong học tập, giáo dục đạo đức, tư tưởng hoặc trong sáng tác nghệ thuật [31]. Những kiến thức, kĩ năng cần thiết mà người lớn cần cung cấp cho trẻ về chủ đề Giao thông xoay quanh những nội dung như phương tiện giao thông, luật giao thông, kĩ năng đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông.
Chủ đề Giao thông là một trong những chủ đề giáo dục được đưa vào thực hiện trong Chương trình Giáo dục mầm non. Từ và vốn từ Tiếng Việt 1. Từ Cho đến nay, đã có khoảng 300 định nghĩa về Từ. Các nhà khoa học đứng trên những phương diện nghiên cứu khác nhau đã đưa ra những quan điểm xem xét Từ trên phương diện ngữ pháp học (phối hợp mặt ngữ âm và mặt ngữ nghĩa) được chấp nhận hơn cả.
Dưới góc độ ngôn ngữ học, các nhà ngôn ngữ học đã định nghĩa về Từ Tiếng Việt như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất, là một âm hay một tổ hợp âm có nghĩa của một ngôn ngữ, có khả năng hoạt động độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu. Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, bao gồm hình thức âm thanh ổn định và hoàn chỉnh về ý nghĩa. Hai phần này liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau để biểu hiện ý nghĩa của con người. Từ không chỉ biểu thị các sự vật hiện tượng đơn lẻ mà biểu thị cả một nhóm sự vật hiện tượng tập hợp lại theo một dấu hiệu nhất định, do đó từ có tính chất khái quát cao.
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (như quan hệ về số, về giống,.) và cú pháp trong câu, nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống Tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”. 11 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 Trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, tác giả Nguyễn Như Ý giải thích “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định, dùng để tạo câu.[31] Trong Sách giáo khoa ngữ văn 6, tập 1 có nêu định nghĩa về từ như sau: “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu”.[] Tóm lại, dựa trên những góc độ, phương diện nghiên cứu khác nhau mà các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra những định nghĩa về từ khác nhau. Trong phạm vi của khóa luận, chúng tôi thống nhất với khái niệm về từ trong Sách giáo khoa Ngữ văn 6 tập 1 làm khái niệm công cụ trong quá trình thực hiện đề tài. Vốn từ Tiếng Việt Vốn từ hay còn gọi là từ vựng là tập hợp các từ trong một ngôn ngữ mà người đó quen thuộc.
Vốn từ thường xuyên tăng lên theo tuổi tác, và là công cụ cơ bản, hữu dụng trong giao tiếp và thu nhận kiến thức.[32] Vốn từ của một ngôn ngữ là vô cùng phong phú. Vốn từ ấy không đứng yên mà luôn vận động và phát triển.