Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Giáo dục giới tính cho trẻ em là một nhiệm vụ giáo dục mang tính khách quan và cấp thiết trong bối cảnh xã hội hiện đại. Các nghiên cứu thực tiễn cho thấy sự chín muồi về mặt sinh học của trẻ em hiện nay diễn ra sớm hơn từ 1,5 đến 2 năm so với các thế hệ trước. Đồng thời, sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng (truyền hình, phim ảnh, sách báo) khiến trẻ tiếp nhận nhiều luồng thông tin đa chiều, thiếu chọn lọc, dễ dẫn đến tình trạng mất cân bằng giữa sự trưởng thành sinh lý và tâm lý - xã hội.

Ở lứa tuổi mẫu giáo 5 – 6 tuổi, quá trình phát triển giới tính có những chuyển biến rõ rệt cả về mặt thể chất lẫn nhận thức. Theo mục tiêu đổi mới giáo dục mầm non, việc trang bị nền tảng nhân cách, kỹ năng sống và kiến thức giới tính cơ bản đóng vai trò định hướng quan trọng trước khi trẻ bước vào bậc phổ thông. Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, trong đó trò chơi học tập giữ vai trò là phương tiện truyền tải tri thức, kỹ năng và thái độ một cách tự nhiên, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi. Tuy nhiên, thực tế tại các trường mầm non cho thấy hệ thống trò chơi học tập phục vụ giáo dục giới tính còn nghèo nàn về số lượng, thiếu đồng bộ về cấu trúc và chưa bao quát đầy đủ các nội dung giáo dục giới tính cần thiết.

Nhằm giải quyết bất cập này, đề tài "Thiết kế trò chơi học tập nhằm giáo dục giới tính cho trẻ 5 – 6 tuổi" được thực hiện với các định hướng khoa học sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Thiết kế hệ thống trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
  • Giả thuyết khoa học: Nếu thiết kế được các trò chơi học tập có hình thức đa dạng, cấu trúc rõ ràng, phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục giới tính và đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thì kết quả giáo dục giới tính trên trẻ sẽ được nâng cao rõ rệt.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc thiết kế trò chơi học tập nhằm giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
    2. Khảo sát và đánh giá thực trạng thiết kế, sử dụng trò chơi học tập nhằm giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
    3. Thiết kế và tổ chức thử nghiệm sư phạm hệ thống trò chơi học tập nhằm giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
  • Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
    • Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
    • Đối tượng nghiên cứu: Thiết kế trò chơi học tập nhằm giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Nội dung: Thiết kế trò chơi học tập giáo dục giới tính cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non.
    • Địa bàn khảo sát thực tiễn: 03 trường mầm non trực thuộc thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ gồm Trường Mầm non Phong Châu (phường Phong Châu), Trường Mầm non Hùng Vương (phường Hùng Vương), và Trường Mầm non Hà Lộc (xã Hà Lộc).
    • Thời gian khảo sát: Từ ngày 05/12/2016 đến ngày 12/01/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các lý thuyết nền tảng về giới tính học, tâm lý học lứa tuổi và giáo dục học mầm non:

1. Khung lý thuyết và khái niệm

  • Phân định Giới và Giới tính: Sử dụng khung phân định của SEAGEP (2001) để làm rõ ranh giới giữa hai khái niệm thường bị đồng nhất:
Tiêu chí Giới tính (Sex) Giới (Gender)
Đặc tính Khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ. Khác biệt về phương diện xã hội giữa nam và nữ.
Nguồn gốc Đặc tính sinh học tự nhiên, bẩm sinh khi sinh ra. Đặc tính xã hội, do hoàn cảnh văn hóa - xã hội tạo nên.
Sự biến đổi Cố định, không thay đổi theo thời gian và không gian. Có thể thay đổi theo thời gian, khác biệt giữa các nền văn hóa.
  • Khái niệm Giáo dục giới tính (GDGT): Tổng hợp quan điểm của các học giả trong và ngoài nước như V. N. Kolexev, A. V. Petrovxki, GS. Trần Trọng Thủy, GS. Đặng Xuân Hoài, BS. Đỗ Hồng Ngọc, khẳng định GDGT là một bộ phận của giáo dục đạo đức và giáo dục nhân cách toàn diện, chuẩn bị tri thức sinh lý, tâm lý - xã hội, kỹ năng và thái độ đúng đắn cho trẻ.
  • Lý thuyết về Trò chơi học tập (TCHT): Dựa trên luận điểm của Tikheva, Xamarucova, Xôrôkina, E. I. Uxova, TS. Nguyễn Ánh Tuyết; xác định TCHT là dạng hoạt động thực hành đặc biệt có luật chơi và nội dung chơi do người lớn sáng tạo, nhằm giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới hình thức chơi hấp dẫn. Cấu trúc TCHT chuẩn gồm: Tên trò chơi, Nhiệm vụ nhận thức, Hành động chơi, Luật chơi, Đồ chơi/phương tiện và Kết quả chơi.
  • Đặc điểm tâm sinh lý trẻ 5 – 6 tuổi: Trọng lượng não đạt 1100g – 1350g, quá trình miêlin hóa tế bào thần kinh tăng mạnh; tư duy chuyển dần từ trực quan hình tượng sang trực quan sơ đồ và xuất hiện các yếu tố tư duy logic; ngôn ngữ ngữ cảnh phát triển, trẻ bắt đầu xác định ý thức bản ngã và nhận biết vai giới tính.

2. Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, so sánh, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu khoa học, văn bản quy phạm và chương trình giáo dục mầm non liên quan.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra: Rà soát chương trình GDMN hiện hành; phát phiếu trưng cầu ý kiến đối với 30 giáo viên mầm non đang trực tiếp dạy lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi; trò chuyện trực tiếp với 60 trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi theo đề cương thiết kế sẵn.
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát tiến trình tổ chức hoạt động và biểu hiện của giáo viên, trẻ khi tham gia các trò chơi học tập.
    • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích kế hoạch giáo dục, giáo án tổ chức hoạt động của giáo viên tại 03 trường khảo sát.
    • Phương pháp thử nghiệm sư phạm: Tổ chức áp dụng các trò chơi học tập đã thiết kế để kiểm chứng giả thuyết khoa học.
  • Phương pháp thống kê toán học: Ứng dụng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý và phân tích số liệu định lượng thu thập từ khảo sát.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc thiết kế trò chơi học tập nhằm giáo dục giới tính cho trẻ 5 – 6 tuổi

Chương 1 tập trung tổng quan lịch sử nghiên cứu và xây dựng hệ thống cơ sở khoa học cho đề tài:

  1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

    • Nghiên cứu quốc tế: Điểm qua hai xu hướng lớn: (1) Khẳng định GDGT là bộ phận của giáo dục đạo đức (A. S. Makarenko, I. S. Kon); (2) Xác định mục đích, nội dung và phương pháp GDGT tại Liên Xô (đưa môn Đạo đức học và tâm lý học đời sống gia đình vào trường học năm 1983-1984), CHDC Đức (giáo dục từ lứa tuổi mẫu giáo thập niên 1970), Philippines (lồng ghép vào chương trình nội khóa), Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia... Đồng thời chỉ ra khoảng trống: chưa có công trình quốc tế nào nghiên cứu chuyên sâu về thiết kế TCHT cho GDGT ở lứa tuổi 5 – 6 tuổi.
    • Nghiên cứu tại Việt Nam: Phân tích công trình của Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị Đoan, Ngô Thị Hợp, Nguyễn Thị Bích Hạnh. Các tác giả đã chỉ ra vai trò của GDGT nhưng nội dung còn tản mạn, chưa xây dựng được mục tiêu chi tiết và chưa khai thác triệt để ưu thế của TCHT.
  2. Khung mục tiêu và nội dung GDGT cho trẻ 5 – 6 tuổi: Khóa luận xác lập 2 mảng nội dung chính tương ứng với 3 trục mục tiêu (Kiến thức, Kỹ năng, Thái độ):

    • GDGT về bản thân: Nhận biết giới tính bản thân; gọi tên các bộ phận cơ thể và cơ quan sinh dục ngoài; kỹ năng vệ sinh cơ quan sinh dục; cách nhận biết hành vi lạm dụng và kỹ năng tự bảo vệ.
    • GDGT về mối quan hệ khác giới: Phân biệt bạn nam - bạn nữ qua dấu hiệu bên ngoài; nhận biết đặc trưng "tính nam - tính nữ" qua lời nói, hành vi, công việc; bước đầu làm quen với sự mang thai và sinh nở của người mẹ; hình thành thái độ tôn trọng bạn khác giới, yêu thương người thân.
  3. Nguyên tắc và phương pháp giáo dục: Đề xuất 5 nguyên tắc bắt buộc: Đảm bảo tính mục đích, tính khoa học, tính tích cực (lấy trẻ làm trung tâm), tính hiện thực (phù hợp văn hóa địa phương) và tính liên tục.

  4. Bản chất thiết kế TCHT: Định nghĩa thiết kế TCHT là quá trình sáng tạo nhằm tạo ra các trò chơi học tập có cấu trúc hoàn chỉnh, chuyển tải nội dung GDGT thành các nhiệm vụ nhận thức và hành động chơi tự nguyện, hấp dẫn đối với trẻ.


Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc thiết kế trò chơi học tập nhằm giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Chương 2 trình bày kết quả rà soát văn bản chương trình và số liệu điều tra thực trạng tại 03 trường mầm non trên địa bàn thị xã Phú Thọ:

1. Đánh giá TCHT giáo dục giới tính trong chương trình GDMN

  • Chương trình Cải cách Giáo dục Mẫu giáo: Hoàn toàn chưa xây dựng mục tiêu, nội dung, phương pháp hay hệ thống TCHT chuyên biệt về GDGT cho trẻ 5 – 6 tuổi.
  • Chương trình GDMN mới (Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT): Đã tích hợp nội dung giới tính vào hai lĩnh vực phát triển nhận thức và phát triển tình cảm - kỹ năng xã hội. Tuy nhiên, qua rà soát toàn bộ tài liệu chỉ có 06 trò chơi học tập liên quan (đều nằm trong chủ đề Bản thân): Ai nhanh, Tự giới thiệu về bản thân, Thi xem ai nói nhanh, Tả về bản thân, Bạn đang nói về ai, Tìm bạn.
Tên trò chơi học tập Tên gọi Mục đích Chuẩn bị Cách chơi Luật chơi
Ai nhanh Có Có Không Có Không
Tự giới thiệu về bản thân Có Có Không Có Không
Thi xem ai nói nhanh Có Có Không Có Không
Tả về bản thân Có Có Không Có Không
Bạn đang nói về ai Có Có Không Có Không
Tìm bạn Có Có Có Có Không

Nhận xét: 100% (6/6) trò chơi không quy định luật chơi rõ ràng; 83,33% (5/6) thiếu phần chuẩn bị học cụ; 100% các trò chơi chỉ tập trung củng cố kiến thức, hoàn toàn bỏ trống việc rèn luyện kỹ năng phòng tránh xâm hại và thái độ giới tính.

2. Kết quả khảo sát thực trạng trên 30 giáo viên mầm non

Khảo sát tiến hành trên 30 giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 5 – 6 tuổi tại 3 trường mầm non (Phong Châu, Hùng Vương, Hà Lộc) cho thấy các chỉ số cụ thể:

  • Nhận thức về tính cần thiết và vai trò của TCHT:

    • Mức độ cần thiết của GDGT: 83% (25/30) đánh giá rất cần thiết; 17% (5/30) đánh giá cần thiết; 0% không cần thiết.
    • Vai trò của TCHT trong GDGT: 60% (18/30) nhận định rất quan trọng; 40% (12/30) nhận định quan trọng.
    • Mức độ sử dụng TCHT: 100% (30/30) giáo viên có sử dụng TCHT trong công tác giảng dạy.
  • Độ lệch trong nhận thức về mục tiêu và nội dung GDGT:

Nhóm mục tiêu Tiêu chí cụ thể Số giáo viên lựa chọn (n=30) Tỷ lệ (%)
Kiến thức Kể tên bộ phận cơ thể và cơ quan sinh dục ngoài 30/30 100%
Nói được mình thuộc giới nào 28/30 93%
Phân biệt nam và nữ qua dấu hiệu bên ngoài 27/30 90%
Kể được đặc trưng "tính nam, tính nữ" 27/30 90%
Kỹ năng Vệ sinh cơ quan sinh dục 27/30 90%
Cách ứng xử với mỗi giới 25/30 83%
Phân biệt hành vi yêu thương và hành vi lạm dụng 14/30 47%
Đánh giá hành vi của mỗi giới 11/30 37%
Thái độ Yêu thương và tôn trọng bạn khác giới 27/30 90%
Yêu thương mẹ và người thân 21/30 70%
Thái độ tự nhiên với dấu hiệu giới tính 20/30 67%
Tự tin vào giới tính bản thân 15/30 50%
Thích chăm sóc cơ thể 15/30 50%
Bảo vệ bản thân/bạn bè khỏi xâm hại tình dục 10/30 33%
  • Nhận thức về phạm vi nội dung: 73,33% (22/30) giáo viên cho rằng GDGT chỉ là giáo dục về bản thân trẻ; chỉ có 26,67% (8/30) nhận thức được GDGT bao gồm cả mối quan hệ khác giới.
  • Hoạt động được sử dụng để GDGT: Hoạt động học tập chiếm 87% (26/30), sinh hoạt hàng ngày chiếm 67% (20/30), trong khi hoạt động vui chơi chỉ chiếm 43% (13/30) và hoạt động lao động chiếm 20% (6/30).
  • Thực trạng tự thiết kế trò chơi mới:
    • 56,67% (17/30) giáo viên không tự thiết kế, chỉ dùng các trò chơi có sẵn trong tuyển tập.
    • 43,33% (13/30) giáo viên có thiết kế trò chơi mới.
    • Trong số 13 giáo viên có thiết kế trò chơi mới: 76,92% (10/13) thiết kế dựa trên cải biên các trò chơi đã có (thay đổi luật, hành động hoặc dụng cụ); chỉ 23,08% (3/13) thiết kế trò chơi mới hoàn toàn.

Kết quả và đóng góp

1. Kết quả chính từ phân tích thực trạng

  • Khẳng định tính cấp thiết nhưng thiếu đồng bộ: Toàn bộ giáo viên (100%) đều nhận thức được vai trò và có sử dụng trò chơi học tập, song việc triển khai thực tế bị bó hẹp trong chủ đề "Bản thân" thuộc các giờ học chính khóa và giờ sinh hoạt, chưa phát huy được tính năng động của hoạt động vui chơi.
  • Nhận diện khoảng trống nghiêm trọng về kỹ năng tự bảo vệ: Dữ liệu khảo sát cho thấy nhận thức của giáo viên còn thiên lệch nặng về mặt truyền thụ kiến thức giải phẫu/sinh lý đơn thuần (100% chú trọng gọi tên bộ phận cơ thể) trong khi xem nhẹ kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục (chỉ 47% chú ý đến việc giúp trẻ phân biệt hành vi yêu thương với lạm dụng, và chỉ 33% xem thái độ tự bảo vệ bản thân khỏi xâm hại là mục tiêu GDGT).
  • Hạn chế về năng lực thiết kế TCHT: Hơn một nửa giáo viên (56,67%) phụ thuộc tuyệt đối vào tài liệu sẵn có; phần lớn giáo viên có thiết kế mới (76,92%) chỉ dừng lại ở mức độ chắp vá, biến đổi nhỏ trên trò chơi cũ mà chưa xây dựng được các trò chơi có cấu trúc mở, hoàn chỉnh theo mục tiêu GDGT.

2. Định hướng giải pháp của đề tài

  • Đề xuất quy trình thiết kế TCHT chuẩn hóa theo hướng mở, bảo đảm đầy đủ 5 thành tố cấu trúc: Tên trò chơi – Nhiệm vụ nhận thức – Hành động chơi – Luật chơi – Phương tiện/đồ chơi và Kết quả chơi.
  • Mở rộng phạm vi TCHT sang 2 trục nội dung cân bằng: GDGT về bản thân và GDGT về mối quan hệ khác giới, tích hợp các tình huống rèn luyện kỹ năng ứng phó với hành vi lạm dụng thân thể.

3. Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn

  • Về lý luận: Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khung lý luận về việc sử dụng trò chơi học tập như một phương tiện chuyên biệt để giáo dục giới tính cho trẻ 5 – 6 tuổi; xây dựng bảng tiêu chí mục tiêu 3 thành tố (Kiến thức – Kỹ năng – Thái độ) chi tiết cho lứa tuổi mẫu giáo lớn.
  • Về thực tiễn: Cung cấp bộ số liệu thực trạng khách quan về thực tiễn GDGT tại các trường mầm non thị xã Phú Thọ; chỉ ra những điểm nghẽn trong chương trình GDMN ban hành theo Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT làm cơ sở khoa học để thiết kế bộ công cụ trò chơi học tập ứng dụng trực tiếp cho giáo viên mầm non.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Khảo sát thực trạng được giới hạn trong phạm vi không gian gồm 03 trường mầm non trên địa bàn thị xã Phú Thọ với cỡ mẫu 30 giáo viên và 60 trẻ; khung thời gian khảo sát thực tế diễn ra trong giai đoạn từ tháng 12/2016 đến tháng 01/2017.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng địa bàn khảo sát sang các khu vực đô thị lớn và vùng nông thôn, miền núi để so sánh sự khác biệt vùng miền; tiến hành thử nghiệm sư phạm diện rộng trên nhiều nhóm lớp đối chứng và thực nghiệm nhằm đo lường định lượng mức độ phát triển kỹ năng tự bảo vệ của trẻ sau khi tham gia hệ thống trò chơi học tập mới.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục Mầm non, Giáo dục học, Tâm lý học lứa tuổi.
    • Giáo viên mầm non trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi).
    • Cán bộ quản lý chuyên môn, chuyên viên phụ trách bậc học mầm non tại các Phòng và Sở Giáo dục và Đào tạo.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Bảng đối chiếu khái niệm Giới – Giới tính theo chuẩn SEAGEP (2001) và ma trận mục tiêu – nội dung giáo dục giới tính cho trẻ 5 – 6 tuổi (Bảng 1.2).
    • Khung cấu trúc phân tích 5 thành tố của trò chơi học tập và phương pháp cải biên, phát triển trò chơi học tập từ chương trình hiện hành.
    • Bộ công cụ phiếu hỏi và bảng số liệu phân tích định lượng về nhận thức GDGT của giáo viên mầm non.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt khái niệm "Giới" và "Giới tính" dựa trên những tiêu chí nào?
Dựa trên tài liệu SEAGEP (2001), khóa luận phân biệt qua 3 tiêu chí: (1) Đặc tính: Giới tính là khác biệt sinh học, Giới là khác biệt xã hội; (2) Nguồn gốc: Giới tính mang tính bẩm sinh tự nhiên, Giới do hoàn cảnh xã hội tạo nên; (3) Sự biến đổi: Giới tính cố định và không đổi, Giới có thể thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các nền văn hóa.

2. Kết quả rà soát 06 trò chơi học tập trong Chương trình GDMN mới (Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT) chỉ ra những khiếm khuyết gì?
Toàn bộ 6 trò chơi (Ai nhanh, Tự giới thiệu về bản thân, Thi xem ai nói nhanh, Tả về bản thân, Bạn đang nói về ai, Tìm bạn) chỉ xuất hiện trong chủ đề "Bản thân"; 100% trò chơi không xây dựng luật chơi; 5/6 trò chơi không có khâu chuẩn bị; toàn bộ chỉ tập trung củng cố kiến thức mà chưa chú trọng rèn luyện kỹ năng và thái độ giới tính.

3. Khảo sát thực trạng 30 giáo viên tại thị xã Phú Thọ bộc lộ nhận thức lệch như thế nào về mục tiêu GDGT?
Giáo viên tập trung tuyệt đối vào mục tiêu kiến thức (100% chọn việc nhận biết cơ quan sinh dục ngoài, 93% chọn nhận biết giới tính bản thân) nhưng xem nhẹ mục tiêu kỹ năng tự bảo vệ và thái độ phòng chống xâm hại (chỉ 47% chọn phân biệt hành vi yêu thương và lạm dụng; 33% chọn thái độ bảo vệ bản thân và bạn bè khỏi xâm hại tình dục).

4. Tỷ lệ giáo viên tự thiết kế trò chơi học tập GDGT mới là bao nhiêu và họ thực hiện theo phương thức nào?
Có 43,33% (13/30) giáo viên có thiết kế trò chơi mới, trong khi 56,67% hoàn toàn không thiết kế. Trong số 13 giáo viên có thiết kế, 76,92% (10/13) thực hiện bằng cách cải biên dựa trên các trò chơi sẵn có và chỉ 23,08% (3/13) tự sáng tạo trò chơi mới hoàn toàn.


Kết luận

Công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về giáo dục giới tính và vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Kết quả khảo sát thực tế tại 03 trường mầm non trên địa bàn thị xã Phú Thọ đã phản ánh chính xác thực trạng thiếu hụt tài liệu chuẩn hóa và sự lệch pha trong nhận thức mục tiêu giáo dục giới tính của đội ngũ giáo viên đứng lớp. Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc để tác giả đề xuất định hướng thiết kế hệ thống trò chơi học tập có cấu trúc mở, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính toàn diện cho bậc học mầm non.