Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài * Trên thế giới, từ xa xưa việc GDGT đã được quan tâm nghiên cứu. Song phải từ thế kỷ XX, GDGT mới được khẳng định và nghiên cứu rộng rãi.
Có thể xem xét theo hai xu hướng chính sau đây: Xu hướng 1: Khẳng định GDGT là một bộ phận trọng của giáo dục đạo đức nói riêng và giáo dục nói chung Các nhà khoa học Liên Xô, đặc biệt là các nhà khoa học về y học, giáo dục học, tâm lí học, sinh lí học đã xây dựng nền móng vững chắc cho nền khoa học giới tính và giáo dục giới tính theo quan điểm Mác–xít: A. Makarenko khẳng định: “Các nhà giáo dục học Xô viết coi giáo dục giới tính và giáo dục về đời sống gia đình là một nội dung của giáo dục đạo đức chuẩn bị cho con người bước vào đời sống gia đình” và“Đạo đức xã hội đặt ra những vấn đề về giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên. Sinh hoạt giới tính của con người liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia đình tức là mối quan hệ gia nam và nữ, mối quan hệ dẫn tới mục đích hạnh phúc của con người và việc giáo dục con cái. Khi giáo dục một con người không thể quên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó về giới tính”.
Kon khẳng định: “Chuẩn bị cho nam nữ thanh niên bước vào cuộc sống gia đình đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống giáo dục đạo đức và giáo dục giới tính” và “dù xác định mối tương quan giữa giáo dục giới tính là giáo dưỡng giới tính như thế nào đi chăng nữa, thì cả hai thứ đều phải tuân theo các mục đích chung của giáo dục”. Như vậy, các công trình nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định vai trò của GDGT: GDGT khẳng định GDGT là một bộ phận trọng của giáo dục đạo 6 đức nói riêng và giáo dục nói chung. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu và chỉ ra vai trò quan trọng của việc GDGT cho trẻ 5 - 6 tuổi đối với việc giáo dục đạo đức nói riêng và giáo dục nói chung.[33] Xu hướng 2: Xác định mục đích, nội dung và phương pháp GDGT cho trẻ Tại Liên Xô từ năm 1968, hầu hết các địa phương của Liên Xô bắt đầu chú ý tới việc giáo dục thế hệ trẻ các vấn đề về giới tính, nhất là đời sống tình dục và quan hệ hôn nhân. Tầm quan trọng của việc “cần phải phát triển và hoàn thiện nội dung phương pháp giáo dục giới tính phù hợp với đạo lý” đã được thừa nhận tại kì họp liên tịch giữa Viện hàn lâm khoa học y học và Viện hàn lâm khoa học giáo dục Liên Xô 1971, và tại cuộc “Hội thảo quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa về kế hoạch hoá gia đình, giáo dục giới tính, về vợ chồng và gia đình tại Varsava” năm 1977 [12].
Từ những năm 70, việc giáo dục giới tính cho học sinh đã được đề xuất, giảng dạy ở một số nơi. Năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã ra chỉ thị cho tất cả các trường học trong cả nước thực hiện chương trình giáo dục vệ sinh và giáo dục giới tính cho học sinh các trường phổ thông. Một chương trình giáo dục giới tính được biên soạn rất tỉ mỉ và cụ thể cho học sinh từ cấp 1 đến cấp 3 (trung học phổ thông). Đặc biệt, trong chương trình giáo dục từ năm học 1983 – 1984 có thêm một môn học cho học sinh lớp 9 và lớp 10 (tương đương lớp 11, 12 của nước ta) gọi tên là “Đạo đức học và tâm lí học đời sống gia đình” với 34 tiết chính khoá.
Tại Đức, vấn đề giáo dục giới tính được tiến hành rộng rãi từ những năm 60, đặc biệt từ những năm 70 của thế kỉ XX trở đi. Các nhà khoa học Đức quan niệm rằng: “Những hiểu biết khoa học về vấn đề giáo dục giới tính cần được trang bị ngay cho cả các cô mẫu giáo, vườn trẻ ở đó cũng cần phải nói đến sự giáo dục về môn quan hệ đúng đắn gì những người khác giới”. Từ năm 1974, một chương trình giáo dục giới tính đã được xây dựng rất tỉ mỉ cụ thể, dạy cho học sinh phổ thông từ lớp 8, với 15 chủ đề khác nhau và trên 20 sinh tham khảo được quy định. Ngoài ra, tại nhiều nước Châu Âu khác: Tiệp Khắc, Hungary, Ba Lan 7 Anh, Đan Mạch, Thuỷ Điển, Mĩ, Pháp… đều đã tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông bằng những chương trình bắt buộc trên toàn quốc, được chính phủ công bố [14].
- Tại các nước châu Á, châu Phi, Mĩ Latin cũng đưa giáo dục giới tính vào trường phổ thông và đã đạt kết quả tốt. Trung Quốc đã tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh từ năm 1974 và hiện nay là một trong những nước có nhiều công trình nghiên cứu, có sự phát triển cao trong nghiên cứu khoa học về giới tính. - Tại các nước Đông Nam Á như: Thailand, Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines… cũng đã thực hiện nội dung GDGT [9]. Ở Philippines, giáo dục giới tính đã được đưa vào chương trình nội khoá của trường phổ thông cơ sở và trường trung học phổ thông, và là một bộ phận của giáo dục dân số và kế hoạch hoá gia đình.
Nội dung giáo dục giới tính đã được lồng ghép một cách hợp lí vào nhiều bộ môn văn hoá khác, chủ yếu là môn kế hoạch hoá gia đình qua các giờ chính khoá và qua các hoạt động ngoại khoá, theo mức độ khác nhau ở các lứa tuổi khác nhau. Ở nước này, việc nghiên cứu các tỉnh thức tổ chức dạy học, những phương pháp và những phương tiện dạy học về giới tính rất được quan tâm và cuốn hút học sinh, làm cho quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao. Việc giáo dục nội dung này cũng đã được mở rộng ra ngoài nhà trường, đến các tầng lớp nhân dân khác nhau qua rất nhiều hình thức giáo dục phong phú, qua các trung tâm tư vấn và đã được xã hội ủng hộ. * Nghiên cứu về việc thiết kế TCHT nhằm GDGT cho trẻ 5 – 6 tuổi Ở nước ngoài, nghiên cứu về TCHT thường theo các xu hướng: Thiết kế các TCHT nhằm giáo dục nhận thức, tình cảm và dạy các nội dung cụ thể (hình thành biểu tượng toán, làm quen với môi trường xung quanh, phát triển ngôn ngữ.
Tuy nhiên, thiết kế TCHT nhằm GDGT cho trẻ 5 – 6 tuổi là chưa có. Như vậy, có thể thấy việc thiết kế các TCHT nhằm GDGT cho trẻ 5 – 6 tuổi là cần thiết nhưng chưa được quan tâm nghiên cứu một cách hệ thống 8 và đầy đủ. Những nghiên cứu ở Việt Nam * Nghiên cứu về giáo dục giới tính cho trẻ 5 – 6 tuổi Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, cùng với giáo dục dân số giáo dục giới tính đã bắt đầu được quan tâm và được nghiên cứu. Có thể xem xét GDGT theo hai hướng chính sau: Xu hướng 1: Khẳng định vai trò quan trọng của GDGT cho trẻ nói chung và GDGT cho trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng.
Các nhà giáo dục Việt Nam khẳng định định vai trò của GDGT đối với trẻ. Họ cho rằng: Giới tính xuất hiện rất sớm ở con người, bởi vậy để con người phát triển toàn diện và tốt đẹp, cũng cần có GDGT từ rất sớm. “Giáo dục giới tính thì có thể và phải bắt đầu càng sớm càng tốt, từ khi trẻ rời nhà hộ sinh”. “Cũng như mọi lĩnh vực giáo dục khác, GDGT phải được bắt đầu từ ngay những năm đầu tiên của cuộc đời con người.
Mỗi lứa tuổi cần có có nội dung và hình thức phù hợp. Tác giả Nguyễn Khắc Viện đã dày công nhiên cứu về giáo dục giới tính trẻ em lứa tuổi mẫu giáo. Theo ông: “Vào tuổi mẫu giáo, khi trẻ tò mò muốn biết về mọi cái trong thế giới xung quanh mình, chúng muốn biết về sự khác biệt của mọi cái xung quanh thì sự khác biệt về giới tính cũng nằm trong tầm mắt của trẻ em khiến trẻ có ý thức về bản thân mình và người khác”.[4] Như vậy, các công trình tâm lý học và giáo dục học đã nghiên cứu trong nước đã khẳng định GDGT cho trẻ là bộ phận của GD, GDGT góp phần vào việc phát triển toàn diện nhân cách con người. Tuy nhiên, vai trò của GDGT cho lứa tuổi 5 - 6 tuổi còn ít được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu này.
Xu hướng 2: Xác định mục đích, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp của quá trình GDGT cho trẻ 5 - 6 tuổi Từ việc xác định GDGT cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng, các tác giả đã xác định mục đích, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp của GDGT cho trẻ 5 - 6 tuổi: 9 Nguyễn Thị Thu Hà đã đưa ra các mục đích, nội dung, phương pháp GDGT cho trẻ 5 - 6 tuổi. Tuy nhiên, mục đích chưa đầy đủ, nội dung chưa cụ thể và phương pháp được giới hạn trong hoạt động vui chơi. Ngoài ra, chưa có mục tiêu GDGT cụ thể làm cho quá trình GDGT cho trẻ gặp nhiều khó khăn.[7] Nguyễn Văn Lê và Nguyễn Thị Đoan trong cuốn “ Giáo dục giới tính trong giáo dục dân số” cungc tổng kết về một số kinh nghiệm của GDGT của một số nước.Trong đó có đề cập đến GDGT ngay từ lứa tuổi MG và đưa ra một số nội dung, GDGT cho độ tuổi này. Ngô Thị Hợp và Nguyễn Thị Bích Hạnh trong “Những kiến thức ban đầu hình thành kĩ năng sống cho trẻ mầm non” đã tìm hiểu về đặc điểm giới tính của trẻ mầm non và trên cơ sở đó đã đưa ra một số nội dung GDGT cho trẻ mẫu giáo: dạy trẻ nhận biết về giới tính, dạy trẻ phòng tránh xâm hại tình dục và một số phương pháp để GDGT cho trẻ trong đó nhấn mạnh phương pháp trò chuyện “Vấn đề giới tính vốn là điều khá tế nhị và khó nói.
Tuy nhiên, trẻ rất cần được trang bị những kiến thức về giới tính trước khi thành người lớn. Hãy bắt đầu nói chuyện khéo léo để cho trẻ được tiếp cận dần với những khái niệm về giới tính”[13] Như vậy, các tác giả này đã đề cập đến một số nội dung GDGT, các phương pháp để GDGT cho trẻ nói chung và trẻ 5 – 6 tuổi nói riêng; tuy nhiên, các nội dung GDGT này chưa đầy đủ, đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ và sự phát triển của xã hội.