phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục, chữ viết tắt và tài liệu tham khảo; nội dung nghiên cứu của đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Mẫu giáo lớn thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề Chƣơng 2: Thực trạng việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Mẫu giáo lớn thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề tại trường Mầm non thực hành – Đại học Quảng Nam. Chƣơng 3: Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Mẫu giáo lớn thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề và thực nghiệm sư phạm tại trường Mầm non thực hành – Đại học Quảng Nam. 5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1.
Biện pháp Biện pháp là cách làm, cách giải quyết các vấn đề cụ thể, cách thức xử lí công việc, con đƣờng để thực hiện một điều gì đó có hiệu quả nhất [25; 119]. Biện pháp là cách thức tổ chức khắc phục những hiện tƣợng tiêu cực hoặc có chiều hƣớng “tiêu cực”. Hay nói cách khác biện pháp là cách thực hiện, là con đƣờng để thực hiện việc gì đó hiệu quả nhất [8; 7]. Phát triển Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “phát triển” là vận động, tiến triển theo chiều hƣớng tăng lên: phát triển kinh tế, văn hóa; không ngừng phát triển sản xuất [29; 1321].
Theo từ điển Tiếng Việt, “phát triển” là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp. Nhƣ vậy, “phát triển” đƣợc hiểu là sự tăng trƣởng, là sự chuyển biến theo chiều hƣớng tích cực, tiến lên [11; 743]. Kỹ năng Cho đến nay, trên thế giới và ở nƣớc ta vẫn tồn tại nhiều quan điểm khách quan khác nhau về kỹ năng và nó đƣợc nhìn dƣới những góc độ khác nhau. Các nhà Giáo dục Việt Nam quan niệm kỹ năng nhƣ là khả năng của con ngƣời thực hiện có kết quả hành động tƣơng ứng với mục đích và điều kiện.
Một số tác giả khác lại quan niệm, kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt các thao tác phức hợp của hành động bằng cách lựa chọn và vận dụng tri thức vào quy định đúng đắn [9; 60]. Tác giả Nguyễn Thị Thanh cho rằng, kỹ năng là hành động có hiệu quả các hành động và kĩ thuật hành động trên cơ sở vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm đã có một cách hợp lí, linh hoạt vào các tình huống khác nhau để đạt đƣợc mục tiêu đã xác định [23; 34]. Tiếp thu những quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: Kỹ năng là năng lực của chủ thể khi vận dụng vốn kiến thức, kinh nghiệm của mình vào thực hiện một hoạt 6 động thực tiễn nào đó đạt hiệu quả cao, gắn liền với ý thức, ý chí, thái độ tích cực của chủ thể. Giao tiếp Giao tiếp là một trong những phạm trù trung tâm của tâm lý học.
Tƣ tƣởng về giao tiếp đƣợc đề cập từ thời cổ đại qua thời kỳ phục hƣng và đến giữa thế kỷ XX thì hình thành nên một chuyên ngành Tâm lý học giao tiếp. Ngay từ khi còn là các tƣ tƣởng về giao tiếp đến khi xuất hiện Tâm lý học giao tiếp thì khái niệm, bản chất giao tiếp chƣa bao giờ thống nhất hoàn toàn [10; 1].Lêônchiev cho rằng: “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ, bảo đảm sự tƣơng tác giữa ngƣời này với ngƣời khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội của nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phƣơng tiện đặc thù, mà trƣớc hết là ngôn ngữ”. Cùng với quan điểm trên L.Bueva: “Giao tiếp không chỉ là một quá trình tinh thần, mà còn là quá trình vật chất, quá trình xã hội, trong đó diễn ra sự trao đổi hoạt động, kinh nghiệm, sản phẩm của hoạt động” [11; 7]. Từ các khái niệm giao tiếp trên, chúng tôi quan niệm: “Giao tiếp của trẻ mẫu giáo là quá trình tiếp xúc của trẻ đối với nhà trƣờng, gia đình và xã hội nhằm trao đổi thông tin, tƣ tƣởng, tình cảm của trẻ với những ngƣời xung quanh”.
Kỹ năng giao tiếp Nhóm tác giả Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc cho rằng: “Kỹ năng giao tiếp là khả năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những biểu hiện tâm lý bên trong của đối tƣợng và bản thân của chủ thể giao tiếp; là khả năng sử dụng hợp lý những phƣơng tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích giao tiếp” [1; 201]. Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn: “Kỹ năng giao tiếp là khả năng vận dụng hiệu quả các tri thức và kinh nghiệm về giao tiếp, các phƣơng tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ vào trong những hoàn cảnh khác nhau của quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích giao tiếp" [22; 112]. Từ những khái niệm trên, chúng tôi đã chọn khái niệm kỹ năng giao tiếp này làm khái niệm công cụ trong nghiên cứu: Kỹ năng giao tiếp là năng lực tiến hành các thao tác, hành động, kể cả năng lực thể hiện cảm xúc, thái độ nhằm giúp chủ thể giao 7 tiếp trao đổi thông tin, tƣ tƣởng, tình cảm với đối tƣợng giao tiếp. Nói một cách khác, kỹ năng giao tiếp là toàn bộ những thao tác, cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ đƣợc phối hợp hài hòa, hợp lý của cá nhân với cá nhân hay cá nhân với một nhóm xã hội nhằm điều khiển, điều chỉnh đối tƣợng giao tiếp để thực hiện mục tiêu của chủ thể giao tiếp.Piagie cho rằng, trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy, là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ.
Trên quan điểm Macxit, các nhà khoa học Xô Viết đã khẳng định rằng: trò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội. Trò chơi đƣợc truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con đƣờng giáo dục [26; 94]. Tác giả Đặng Thành Hƣng thì cho rằng trò chơi là một thuật ngữ có 2 nghĩa khác nhau tƣơng đối xa [18; 9]. + Một là kiểu loại phổ biến của chơi.
Nó chính là chơi có luật và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với ngƣời tham gia + Hai là những thứ công việc đƣợc tổ chức và tiến hành dƣới hình thức chơi, nhƣ chơi bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dƣới hình thức chơi. Tóm lại, trò chơi chính là chơi có luật; những hành vi chơi tùy tiện, bất giác không gọi là trò chơi. Trò chơi đóng vai theo chủ đề Trò chơi ĐVTCĐ là loại trò chơi mô phỏng các hoạt động trong cuộc sống sinh hoạt của ngƣời lớn, trẻ đóng vai một nhân vật nào đó để thực hiện chức năng xã hội của nhân vật đó bằng những hành động mang tính tƣợng trƣng. Trong trò chơi ĐVTCĐ trẻ em tạo lại những ấn tƣợng, những cảm xúc mà trẻ thu nhận đƣợc từ cuộc sống, từ môi trƣờng xã hội nhờ sự tham gia tích cực của trí tƣởng tƣợng [19; 19,20].
Theo Nguyễn Ánh Tuyết, trò chơi ĐVTCĐ là loại trò chơi mà trẻ mô phỏng lại một mảng nào đó (tức là chủ đề) của cuộc sống ngƣời lớn trong xã hội bằng việc nhập vai vào một nhân vật nào đó nhằm thực hiện chức năng xã hội của họ [26; 43]. Nhƣ vậy, về bản chất hoạt động trò chơi ĐVTCĐ chứa đựng hai yếu tố: Yếu tố đóng vai có tính tƣợng trƣng thông qua hoạt động “mô phỏng” và yếu tố có chủ đề là nội dung chủ đề đã đƣợc quy định sẵn trong chƣơng trình giáo dục mà giáo viên đã chủ động thực hiện. Đặc điểm tâm lý của trẻ 5-6 tuổi 1. Sự phát triển xúc cảm, tình cảm và ý chí của trẻ mẫu giáo lớn - Sự phát triển xúc cảm và tình cảm: Ở lứa tuổi này trẻ xuất hiện tình cảm bạn bè.
Đời sống xúc cảm, tình cảm ổn định hơn so với trẻ 4 - 5 tuổi, mức độ phong phú, phức tạp tăng dần theo các mối quan hệ giao tiếp với những ngƣời xung quanh. Các sắc thái xúc cảm con ngƣời trong quan hệ với các loại lứa tuổi khác nhau, vị trí xã hội khác nhau, đƣợc hình thành nhƣ: Tình cảm mẹ con, ông bà, anh chị em, tình cảm với cô giáo, với ngƣời thân, ngƣời lạ.Tuy nhiên đời sống xúc cảm của trẻ còn dễ dao động, mang tính chất tình huống. + Tình cảm trí tuệ: Tình cảm trí tuệ của trẻ phát triển, mỗi nhận thức mới đều kích thích niềm vui, hứng thú, sự say mê của trẻ; tính tò mò ham hiểu biết, làm nảy sinh nhiều xúc cảm tích cực trong vui chơi, học tập, lao động tự phục vụ. + Tình cảm đạo đức: Do lĩnh hội đƣợc ý nghĩa các chuẩn mực hành vi tốt, xấu.
Qua vui chơi giao tiếp với mọi ngƣời; do các thói quen nếp sống tốt đƣợc gia đình, các lớp mẫu giáo xây dựng cho trẻ. Trẻ ý thức đƣợc nhiều hành vi tốt đẹp cần thực hiện để vui lòng mọi ngƣời. + Tình cảm thẩm mỹ: Qua các tiết học nghệ thuật tạo hình, âm nhạc, tìm hiểu môi trƣờng xung quanh. Cùng với những nhận thức về cái đẹp tự nhiên, hài hoà về bố cục, sắp xếp trong gia đình và lớp học.
Trẻ ý thức rõ nét về cái đẹp cái xấu theo chuẩn (lúc đầu theo chuẩn của bé dần dần phù hợp với đánh giá của những ngƣời xung quanh) xúc cảm thẩm mỹ, óc thẩm mỹ phát triển. - Sự phát triển ý chí: + Do có khả năng làm chủ đƣợc nhiều hành vi, đƣợc ngƣời lớn giao cho nhiều việc nhỏ. Trẻ dần dần đã xác định rõ mục đích của hành động. Trẻ dần dần tách động cơ ra khỏi mục đích với sự cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.
+ Tính mục đích ngày càng đƣợc trẻ ý thức và cố gắng hoàn thành công việc. + Tính kế hoạch xuất hiện, trẻ biết sắp xếp “công việc” vui chơi là phải quét nhà, nhặt rau để khi mẹ về thì mọi việc phải xong để cho mẹ hài lòng.Tinh thần trách nhiệm bản thân dần dần đƣợc hình thành ở trẻ. 9 + Sự phát triển ý chí mạnh hay yếu tuỳ thuộc phần lớn vào sự giáo dục, các biện pháp giáo dục của cha mẹ, cô giáo và những ngƣời lớn xung quanh. Sự phát triển về ngôn ngữ của trẻ Ngôn ngữ mạch lạc thể hiện một trình độ phát triển tƣơng đối cao, không những về phƣơng diện ngôn ngữ mà cả về phƣơng diện tƣ duy.