Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người. Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao được đặt ra ngay từ những bậc học đầu đời. Đối với trẻ 5–6 tuổi (lứa tuổi mẫu giáo lớn), đây là giai đoạn bản lề chuẩn bị tâm thế và năng lực bước vào lớp 1 tiểu học. Ở giai đoạn này, bên cạnh việc phát triển thể chất và nhận thức, việc trang bị các kỹ năng mềm, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp, giữ vai trò then chốt giúp trẻ hòa nhập vào môi trường học tập mới.
Tuy nhiên, trong thực tế chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non, việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp thường gặp phải một số rào cản như trẻ thiếu tự tin, rụt rè, khả năng biểu đạt ngôn ngữ mạch lạc còn hạn chế hoặc chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương. Hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo là vui chơi, trong đó trò chơi đóng vai theo chủ đề giữ vị trí trung tâm, giúp trẻ tái hiện các mối quan hệ xã hội của người lớn, tạo môi trường tự nhiên để rèn luyện kỹ năng diễn đạt, lắng nghe và hợp tác. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Văn Thị Mỹ Linh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Giáo dục Mầm non với đề tài "Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Mẫu giáo lớn thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề".
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp ở trẻ 5–6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề và những yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm 3 nội dung:
- Nghiên cứu về cơ sở lý luận của việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Mẫu giáo lớn thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề.
- Nghiên cứu thực trạng việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Mẫu giáo lớn thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề.
- Đề xuất các biện pháp để phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Mẫu giáo lớn thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề và thực nghiệm sư phạm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Mẫu giáo lớn thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề.
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp; giáo viên và trẻ các lớp Mẫu giáo lớn tại Trường Mầm non Thực hành – Đại học Quảng Nam.
- Phạm vi không gian: 2 lớp Mẫu giáo lớn tại Trường Mầm non Thực hành – Đại học Quảng Nam (địa chỉ tại số 49 Nguyễn Đình Chiểu, phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam).
- Phạm vi thời gian: Khóa luận được hoàn thành và nghiệm thu vào tháng 6 năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên cơ sở các công trình tâm lý học và giáo dục học trong nước và quốc tế. Tác giả vận dụng quan điểm hoạt động tâm lý của L.S. Vygotsky về sự phát triển các chức năng tâm lý bậc cao, lý thuyết trò chơi của J. Piaget, các nghiên cứu về giao tiếp trẻ em của M.I. Lisina, E.A. Arkin, A.P. Usova, cùng các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thủy, Huỳnh Văn Sơn, Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu và Nguyễn Thạc. Về mặt pháp lý, đề tài căn cứ vào Luật Giáo dục năm 2005 (Điều 21 về vị trí giáo dục mầm non, Điều 22 về mục tiêu giáo dục mầm non) và Chương trình Giáo dục Mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
Các khái niệm công cụ được xác định bao gồm:
- Kỹ năng giao tiếp: Năng lực tiến hành các thao tác, hành động, bao gồm cả khả năng biểu lộ cảm xúc, thái độ nhằm giúp chủ thể trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với đối tượng giao tiếp bằng phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
- Trò chơi đóng vai theo chủ đề: Loại trò chơi mô phỏng các hoạt động trong cuộc sống sinh hoạt của người lớn, trẻ đóng vai một nhân vật nhất định để thực hiện chức năng xã hội của nhân vật đó bằng những hành động mang tính tượng trưng dựa trên một chủ đề cụ thể.
Tác giả xác định hệ thống 10 kỹ năng giao tiếp thành phần cần hình thành cho trẻ mẫu giáo lớn:
- Kỹ năng nhận ra sắc thái biểu cảm của lời nói (vui, buồn, tức, giận, ngạc nhiên, sợ hãi).
- Kỹ năng nghe hiểu và thực hiện các chỉ dẫn liên quan đến hành động đơn giản và sử dụng lời nói trong giao tiếp.
- Kỹ năng dùng từ phù hợp với nội dung, hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp.
- Kỹ năng sử dụng lời nói để bày tỏ cảm xúc, nhu cầu, ý nghĩ và kinh nghiệm của bản thân.
- Kỹ năng sử dụng lời nói để trao đổi và chỉ dẫn bạn bè trong quá trình chơi.
- Kỹ năng khởi xướng chủ đề giao tiếp.
- Kỹ năng điều chỉnh giọng nói phù hợp với tình huống và nhu cầu giao tiếp.
- Kỹ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (cử chỉ, nét mặt, ánh mắt).
- Kỹ năng làm chủ bản thân khi giao tiếp (kiềm chế cảm xúc, không nói leo, không ngắt lời).
- Kỹ năng hỏi lại hoặc biểu hiện qua cử chỉ khi không hiểu người khác nói.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên ngành tâm lý học, giáo dục mầm non.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Anket): Khảo sát nhận thức của 6 giáo viên dạy lớp lớn, 3 thành viên Ban Giám hiệu và 4 cán bộ quản lý (tổng số 13 người).
- Phương pháp quan sát sư phạm: Theo dõi các hoạt động đóng vai của trẻ (tiêu biểu như hoạt động đóng kịch theo truyện "Mèo đi câu cá").
- Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn giáo viên và cán bộ quản lý.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Ghi chép hệ thống từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp trẻ sử dụng trong khi chơi.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm có đối chứng trên 2 lớp mẫu giáo lớn tại trường khảo sát.
- Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê toán học, tính tỷ lệ phần trăm để lượng hóa các mức độ đánh giá.
Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập trực tiếp tại Trường Mầm non Thực hành – Đại học Quảng Nam, bao gồm số liệu từ 13 cán bộ, giáo viên và mẫu quan sát gồm 60 trẻ thuộc 2 lớp mẫu giáo lớn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Mẫu giáo lớn thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng: biện pháp, phát triển, kỹ năng, giao tiếp, kỹ năng giao tiếp, trò chơi và trò chơi đóng vai theo chủ đề. Tác giả phân tích các đặc điểm tâm lý đặc thù của trẻ 5–6 tuổi:
- Đời sống xúc cảm – tình cảm phát triển phong phú, bắt đầu hình thành tình cảm bạn bè, tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm mỹ; ý chí của trẻ thể hiện qua tính mục đích, tính kế hoạch và tinh thần trách nhiệm bước đầu.
- Ngôn ngữ của trẻ có sự chuyển dịch rõ rệt từ ngôn ngữ tình huống sang ngôn ngữ ngữ cảnh và ngôn ngữ giải thích, hình thành ngôn ngữ mạch lạc làm tiền đề phát triển tư duy logic.
- Về tư duy, giai đoạn này xuất hiện kiểu tư duy trực quan – sơ đồ bên cạnh tư duy trực quan – hình tượng, đóng vai trò trung gian chuyển tiếp lên tư duy trừu tượng.
Về phương diện giao tiếp, trò chơi đóng vai theo chủ đề tạo điều kiện hình thành "xã hội trẻ em" – môi trường hợp tác đầu tiên nơi trẻ thử nghiệm các vị trí xã hội, xuất hiện vai trò "thủ lĩnh" và hình thành dư luận nhóm. Chương này xác định quy trình 10 kỹ năng giao tiếp cần phát triển và phân tích vai trò của giáo viên qua 3 bước tổ chức: chuẩn bị hoàn cảnh chơi, hướng dẫn tiến trình chơi (phân vai, tham gia mẫu rồi rút lui dần để phát huy tính chủ động của trẻ) và đánh giá sau khi chơi.
Chương 2: Thực trạng việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Mẫu giáo lớn thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề tại trường Mầm non Thực hành – Đại học Quảng Nam
Chương 2 giới thiệu cơ sở khảo sát: Trường Mầm non Thực hành thành lập theo Quyết định số 3002/QĐ-UBND ngày 24/08/2016 của UBND tỉnh Quảng Nam, quy mô 12 lớp với 357 trẻ, tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên là 42 người (trong đó có 28 giáo viên trực tiếp đứng lớp đều có trình độ đại học).
Tác giả trình bày kết quả khảo sát thực trạng qua các bảng số liệu cụ thể:
Bảng 1: Nhận thức của giáo viên và cán bộ quản lý/Ban Giám hiệu về việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo lớn
| Nhóm đối tượng |
Mức độ nhận thức |
Số lượng (người) |
Tỷ lệ (%) |
| Giáo viên đứng lớp (n = 6) |
Rất quan trọng |
3 |
50,0 |
|
Quan trọng |
2 |
33,3 |
|
Không quan trọng |
1 |
16,7 |
| BGH và Cán bộ quản lý (n = 7) |
Rất cần thiết |
4 |
57,2 |
|
Cần thiết |
2 |
28,5 |
|
Không cần thiết |
1 |
14,3 |
Bảng 2: Mức độ sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp của giáo viên (n = 6)
| Mức độ sử dụng |
Số lượng (người) |
Tỷ lệ (%) |
| Thường xuyên |
1 |
16,7 |
| Thỉnh thoảng |
2 |
33,3 |
| Không bao giờ |
3 |
50,0 |
Bảng 3: Thực trạng lập kế hoạch và chuẩn bị đồ dùng dạy học của giáo viên (n = 6)
| Nội dung thực hiện |
Thường xuyên |
|
Thỉnh thoảng |
|
Không bao giờ |
|
|
Số lượng |
Tỷ lệ (%) |
Số lượng |
Tỷ lệ (%) |
Số lượng |
Tỷ lệ (%) |
| Lập kế hoạch tổ chức |
2 |
33,3 |
1 |
16,7 |
3 |
50,0 |
| Chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi |
1 |
16,7 |
2 |
33,3 |
3 |
50,0 |
Bảng 4: Thực trạng các biện pháp giáo viên đã sử dụng để rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ (n = 6)
| STT |
Biện pháp sư phạm |
Thường xuyên (%) |
Thỉnh thoảng (%) |
Không bao giờ (%) |
| 1 |
Phát huy tính hứng thú, tích cực, chủ động của trẻ |
16,7 |
33,3 |
50,0 |
| 2 |
Xây dựng quy trình tổ chức trò chơi ĐVTCĐ |
0,0 |
50,0 |
50,0 |
| 3 |
Cho trẻ nghe, xem tranh ảnh và kể lại tác phẩm văn học |
33,3 |
16,7 |
50,0 |
| 4 |
Thiết kế một số trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ |
33,3 |
33,3 |
33,4 |
| 5 |
Phối hợp giữa trường mầm non và gia đình trẻ |
0,0 |
33,3 |
66,7 |
| 6 |
Tạo tình huống có vấn đề để trẻ bộc lộ cảm xúc, ứng xử |
16,7 |
50,0 |
33,3 |
Đánh giá mức độ kỹ năng giao tiếp trên 60 trẻ mẫu giáo lớn (thông qua 3 tiêu chí gắn với 10 kỹ năng thành phần, thang điểm 10):
Bảng 5: Mức độ kỹ năng giao tiếp của trẻ 5–6 tuổi tại Trường Mầm non Thực hành (n = 60)
| Mức độ xếp loại |
Thang điểm |
Số lượng trẻ |
Tỷ lệ (%) |
| Tốt |
9 – 10 điểm |
10 |
16,67 |
| Khá |
7 – 8 điểm |
12 |
20,00 |
| Trung bình |
5 – 6 điểm |
20 |
33,33 |
| Yếu |
< 5 điểm |
18 |
30,00 |
Thực trạng cho thấy mức độ kỹ năng giao tiếp của trẻ còn thấp, nhóm Trung bình và Yếu chiếm đến 63,33%. Tác giả chỉ ra các nguyên nhân:
- Nguyên nhân khách quan: Trẻ ít trải nghiệm thực tế; sĩ số lớp đông; thời tiết thay đổi; nhà trường chưa có kế hoạch cụ thể theo từng chủ đề; đồ dùng đồ chơi tại các góc chưa phong phú; thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường.
- Nguyên nhân chủ quan: Giáo viên tổ chức trò chơi theo cảm tính, lập kế hoạch sơ sài, can thiệp quá sâu vào tiến trình chơi; một số trẻ quen dùng từ ngữ địa phương, phát âm ngọng hoặc nói lắp, khả năng chú ý không bền vững.
Chương 3: Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ Mẫu giáo lớn thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề và thực nghiệm sư phạm tại trường Mầm non Thực hành – Đại học Quảng Nam
Chương 3 xác định cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp:
- Căn cứ mục tiêu chương trình giáo dục mầm non theo Luật Giáo dục 2005 (phát triển 5 lĩnh vực: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội, thẩm mỹ).
- Căn cứ các nguyên tắc giáo dục kỹ năng giao tiếp: nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn (chọn chủ đề gần gũi, tích cực, tránh yếu tố bạo lực) và nguyên tắc đảm bảo tính phát triển của L.S. Vygotsky (dạy học đi trước một bước).
- Căn cứ đặc điểm tâm sinh lý trẻ 5–6 tuổi: khả năng chú ý có chủ định kéo dài 37–51 phút, tư duy trực quan – hành động vẫn giữ ưu thế song song với sự phát triển của tư duy trực quan – sơ đồ.
Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng hệ thống biện pháp tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề, thiết kế danh mục trò chơi theo các chủ đề trong năm học, tiến hành thực nghiệm sư phạm trên 2 lớp mẫu giáo lớn (lớp thực nghiệm và lớp đối chứng), đồng thời theo dõi, so sánh các chỉ số kỹ năng giao tiếp của trẻ trước và sau thực nghiệm.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã cung cấp bức tranh định lượng chi tiết về thực trạng kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo lớn tại Trường Mầm non Thực hành – Đại học Quảng Nam trước can thiệp:
- Tỷ lệ trẻ đạt kỹ năng giao tiếp ở mức Tốt chỉ chiếm 16,67% (10/60 trẻ) và mức Khá đạt 20,00% (12/60 trẻ); nhóm trẻ xếp loại Trung bình (33,33%) và Yếu (30,00%) chiếm đa số với tổng tỷ lệ 63,33%.
- Công tác tổ chức của giáo viên bộc lộ nhiều điểm hạn chế: 50% giáo viên không bao giờ sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề để rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ; 50% giáo viên không lập kế hoạch tổ chức; 66,7% giáo viên không phối hợp với gia đình trong nội dung này.
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở các khía cạnh:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiếp của trẻ 5–6 tuổi và vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề trong việc hình thành "xã hội trẻ em".
- Xây dựng bảng tiêu chí đánh giá gồm 3 tiêu chí gắn với 10 kỹ năng giao tiếp cụ thể, hỗ trợ việc đo lường mức độ biểu hiện hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của trẻ.
- Đề xuất các biện pháp sư phạm gắn liền với quy trình tổ chức chơi và phân loại theo từng chủ đề năm học, có kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm.
- Cung cấp nguồn tài liệu nghiên cứu thực địa cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non thuộc Khoa Tiểu học – Mầm non & Nghệ thuật, Trường Đại học Quảng Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số giới hạn đã được tác giả ghi nhận trong văn bản:
- Phạm vi địa bàn nghiên cứu hẹp, chỉ khảo sát và thực nghiệm tại một cơ sở giáo dục duy nhất là Trường Mầm non Thực hành – Đại học Quảng Nam, với dung lượng mẫu gồm 6 giáo viên đứng lớp và 60 trẻ mẫu giáo lớn (chia thành 2 lớp).
- Thời gian nghiên cứu và nguồn lực thực hiện đề tài tốt nghiệp có giới hạn, chưa khảo sát đối chứng trên các cơ sở giáo dục mầm non công lập và ngoài công lập khác trên địa bàn thành phố Tam Kỳ hoặc tỉnh Quảng Nam.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở rộng từ phạm vi đề tài:
- Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm sang các trường mầm non ở địa bàn nông thôn và miền núi nhằm đánh giá tính tương thích của hệ thống biện pháp trong điều kiện cơ sở vật chất khác nhau.
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc khắc phục lỗi phát âm địa phương, nói ngọng, nói lắp của trẻ 5–6 tuổi thông qua trò chơi tại gia đình.
Giá trị tham khảo
Đề tài có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non: Cung cấp phương pháp thiết kế công cụ điều tra thực trạng (phiếu Anket, thang đánh giá 10 kỹ năng) và phương pháp xây dựng tiến trình thực nghiệm sư phạm trong khóa luận tốt nghiệp.
- Giáo viên mầm non đang giảng dạy khối lớp 5–6 tuổi: Có thể tham khảo bảng tiêu chí 3 mức độ và quy trình 3 bước hướng dẫn trò chơi đóng vai theo chủ đề (chuẩn bị, điều khiển theo 2 giai đoạn phát triển trò chơi, đánh giá) để áp dụng vào các giờ hoạt động góc tại lớp học.
- Cán bộ quản lý chuyên môn mầm non: Nắm bắt các nguyên nhân dẫn đến tính hình thức trong việc lập kế hoạch góc chơi của giáo viên để định hướng bồi dưỡng chuyên môn định kỳ.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng tiêu chí nào để đánh giá kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo lớn?
Tác giả xây dựng 3 tiêu chí đánh giá gắn với 10 kỹ năng thành phần trên thang điểm 10:
- Tiêu chí 1: Tính chính xác (xác định đúng đối tượng, dùng đúng phương tiện phi ngôn ngữ; gắn với kỹ năng 1, 8, 10).
- Tiêu chí 2: Thể hiện sự thành thạo và làm chủ bản thân khi giao tiếp (giao tiếp hiệu quả, kiểm soát cảm xúc; gắn với kỹ năng 3, 6, 7).
- Tiêu chí 3: Hoàn thành tốt hoàn cảnh giao tiếp (chủ động tham gia, xử lý tình huống hợp lý; gắn với kỹ năng 2, 4, 5, 9).
2. Mức độ kỹ năng giao tiếp của trẻ 5–6 tuổi tại trường khảo sát trước thực nghiệm đạt kết quả ra sao?
Kết quả khảo sát 60 trẻ tại Trường Mầm non Thực hành cho thấy: mức Tốt đạt 16,67% (10 trẻ), mức Khá đạt 20,00% (12 trẻ), mức Trung bình đạt 33,33% (20 trẻ) và mức Yếu chiếm 30,00% (18 trẻ). Tỷ lệ trẻ ở mức Trung bình và Yếu cộng lại chiếm 63,33%.
3. Thực trạng nhận thức và tần suất sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề của giáo viên có điểm gì đáng chú ý?
Về nhận thức, 50% giáo viên cho rằng việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ qua trò chơi này là rất quan trọng, 33,3% đánh giá quan trọng và 16,7% cho rằng không quan trọng. Tuy nhiên, về thực tế áp dụng, có tới 50% giáo viên không bao giờ sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ; 33,3% thỉnh thoảng sử dụng và chỉ 16,7% sử dụng thường xuyên.
4. Giáo viên được khảo sát gặp phải những khó khăn chủ yếu nào khi tổ chức trò chơi?
Các khó khăn chính được ghi nhận gồm: việc tổ chức trò chơi chưa linh hoạt và thiếu tính sáng tạo; quỹ thời gian bị hạn chế do phải lồng ghép vào nhiều hoạt động học khác; khả năng chú ý có chủ định của trẻ chưa cao; một số trẻ quen dùng tiếng mẹ đẻ/từ địa phương nên ngại giao tiếp bằng tiếng Việt chuẩn; cơ sở vật chất và đồ dùng, đồ chơi theo các góc chủ đề còn ít, chưa phong phú.
5. Tiến trình hướng dẫn trẻ chơi trò chơi đóng vai theo chủ đề của giáo viên gồm các giai đoạn nào?
Trong quá trình chơi, giáo viên điều khiển theo 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (khi trò chơi phát triển ở mức thấp, từ 2–3 vai): Giáo viên trực tiếp tham gia với tư cách là một vai chơi để đưa các phương thức hành vi mẫu vào trò chơi và điều chỉnh hành vi của trẻ.
- Giai đoạn 2 (khi trò chơi mở rộng từ 5–6 vai): Giáo viên mở rộng chủ đề, tạo các hoàn cảnh và vai chơi mới, sau khi thể hiện mẫu hành vi của nhân vật mới thì chủ động rút lui để trẻ tự do thể hiện và sáng tạo.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Văn Thị Mỹ Linh đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5–6 tuổi thông qua hoạt động chủ đạo là trò chơi đóng vai theo chủ đề. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận, đồng thời lượng hóa được thực trạng còn nhiều hạn chế về kỹ năng giao tiếp của trẻ cũng như thói quen tổ chức mang tính hình thức của giáo viên tại Trường Mầm non Thực hành – Đại học Quảng Nam. Trên cơ sở căn cứ khoa học từ chương trình giáo dục mầm non và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, đề tài đã đề xuất các biện pháp sư phạm cụ thể và kiểm chứng qua thực nghiệm. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non và giáo viên trực tiếp đứng lớp.