Tổng quan luận án

Công trình “Kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi tỉnh Tuyên Quang qua trò chơi đóng vai theo chủ đề” do nghiên cứu sinh Phạm Thị Thu Thủy thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Ngọc Lan. Luận án thuộc chuyên ngành Tâm lý học chuyên ngành (mã số: 62.01), được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2016.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Giao tiếp và kỹ năng giao tiếp (KNGT) là điều kiện tất yếu cho sự hình thành, phát triển tâm lý và nhân cách con người. Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn (5-6 tuổi), trò chơi đóng vai theo chủ đề (ĐVTCĐ) giữ vai trò là hoạt động chủ đạo, tạo môi trường giúp trẻ thể nghiệm các vai trò xã hội, rèn luyện khả năng lắng nghe, diễn đạt ngôn ngữ và biểu lộ cảm xúc. Đây là giai đoạn bản lề chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1. Tuy nhiên, thực tế quan sát cho thấy trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non vẫn bộc lộ nhiều hạn chế trong giao tiếp như: nhút nhát, rụt rè, chưa hiểu trọn vẹn lời nói của đối tượng giao tiếp, khó kiềm chế cảm xúc, khó khăn trong việc khởi xướng hoặc diễn đạt ý nghĩ, một số trẻ vùng dân tộc thiểu số chỉ quen sử dụng tiếng mẹ đẻ. Mặc dù vấn đề giao tiếp và trò chơi trẻ em đã được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, song chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về mức độ biểu hiện KNGT của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ dưới góc độ tâm lý học trên địa bàn miền núi như tỉnh Tuyên Quang.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng mức độ biểu hiện KNGT của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ và các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất một số biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm phát triển KNGT cho trẻ. Luận án thực hiện 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Xây dựng cơ sở lý luận cơ bản về KNGT, trò chơi ĐVTCĐ và KNGT của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ.
  2. Khảo sát thực trạng mức độ biểu hiện KNGT và các yếu tố ảnh hưởng đến KNGT của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ tại tỉnh Tuyên Quang.
  3. Đề xuất một số biện pháp tâm lý - sư phạm (tâm lý - giáo dục) để phát triển KNGT ở trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ trong trường mầm non.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp ở trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ.
  • Nội dung nghiên cứu: Tập trung vào thực trạng biểu hiện KNGT và các yếu tố ảnh hưởng trong phạm vi hoạt động trò chơi ĐVTCĐ tại trường mầm non, đồng thời xây dựng các biện pháp tác động tâm lý - sư phạm tương ứng.
  • Khách thể và địa bàn khảo sát: Trẻ em và giáo viên tại các lớp mẫu giáo 5-6 tuổi thuộc hai đơn vị đặc thù của tỉnh Tuyên Quang: Trường Mầm non Tân Trào (khu vực nội thành, thành phố Tuyên Quang) và Trường Mầm non Hòa Phú (khu vực vùng sâu, vùng xa, huyện Chiêm Hóa).
  • Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu và các khảo sát thực nghiệm được tiến hành trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về kỹ năng, giao tiếp và trò chơi ĐVTCĐ theo hai bình diện quốc tế và trong nước:

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Nghiên cứu về kỹ năng: Đi từ tâm lý học hành vi (J. Watson) đến tâm lý học hoạt động Xô viết với hai nhánh chính: nghiên cứu đại cương về bản chất, quy luật hình thành kỹ năng và quan hệ kỹ năng - kỹ xảo (A.V. Petrovsky, K.K. Platonov, N.D. Levitov, P.Ya. Galperin) và nghiên cứu kỹ năng chuyên biệt trong lao động công nghiệp (V.V. Chebysheva), trong hoạt động sư phạm (N.V. Kousmina).
  • Nghiên cứu về giao tiếp: Bao gồm cách tiếp cận coi giao tiếp xuất hiện cả ở người và động vật (B. Chakin, B. Sokolov - cách tiếp cận này bị phê phán do coi nhẹ yếu tố xã hội); cách tiếp cận truyền thông tin (Osgood C.E., M. Argyle, Ia. Janousek, C. Shannon, N. Wiener, Moles); và cách tiếp cận tương tác liên nhân cách (L.S. Vygotsky, B.F. Lomov, L.P. Bueva, A.A. Bodalev, V.P. Zakharov) - hướng tiếp cận khẳng định giao tiếp là sự tương tác chủ thể mang bản chất xã hội lịch sử mà luận án lựa chọn làm cơ sở.
  • Kỹ năng giao tiếp của trẻ em: Tác giả Kak Hai Nodich nghiên cứu tiến trình phát triển ngôn ngữ qua các giai đoạn luyện âm, luyện giọng; Linda Maget giới thiệu kỹ năng giao tiếp xã hội và môi trường kết bạn; Steven Gutstein nhấn mạnh mối quan hệ xã hội và nhận thức bản thân; A. Kurbawa và Ph. Rakhmatinlira phân chia KNGT thành 3 nhóm (sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt nghĩa trong câu, diễn đạt văn phạm); V.P. Zakharov phân loại KNGT theo các pha giao tiếp (thiết lập quan hệ, cân bằng nhu cầu, lắng nghe, tự chủ cảm xúc, thuyết phục).
  • Giao tiếp qua trò chơi ĐVTCĐ: M.I. Lisina chứng minh tính chủ động giao tiếp của trẻ mẫu giáo; phê phán các lý thuyết sinh học bản năng (K. Gross) và phân tâm học (Z. Freud); kế thừa quan điểm tâm lý học Mác-xít của L.S. Vygotsky, D.B. Elkonin, N.K. Krupskaya, G.V. Plekhanov, A.S. Makarenko về nguồn gốc xã hội của trò chơi và vai trò của người lớn trong việc tổ chức, hướng dẫn trò chơi.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

  • Về kỹ năng và giao tiếp: Nguyễn Quang Uẩn nghiên cứu mối quan hệ Tri thức - Kỹ năng - Kỹ xảo; Ngô Công Hoàn và Hoàng Anh nghiên cứu cấu trúc 3 nhóm kỹ năng giao tiếp sư phạm (định hướng, định vị, điều khiển); Trần Trọng Thủy làm rõ kỹ thuật hành động và văn hóa giao tiếp; Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng xác định kỹ năng là năng lực vận dụng tri thức giải quyết nhiệm vụ mới; Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Thị Minh Đức phân tích bản chất liên nhân cách của giao tiếp; Nguyễn Văn Đồng phân loại KNGT thành nhóm ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và liên nhân cách; Nguyễn Văn Lũy và Trần Thị Tuyết Hoa phân tích sự phối hợp chuẩn mực hành vi và ngôn ngữ trong KNGT.
  • Về trò chơi ĐVTCĐ: Lê Thị Bừng nghiên cứu vai trò của trò chơi ĐVTCĐ với sự hình thành nhân cách; Lê Minh Thuận (1989) nghiên cứu trò chơi phân vai theo chủ đề; Nguyễn Thạc và Nguyễn Xuân Thức (1995) nghiên cứu nhóm giao tiếp bạn bè của trẻ 5-6 tuổi; Lê Xuân Hồng (1996) nghiên cứu đặc điểm giao tiếp trong nhóm chơi không cùng độ tuổi; Đinh Văn Vang (2002) nghiên cứu kỹ năng dạy học bằng trò chơi của giáo viên mầm non.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn

Tổng quan cho thấy phần lớn các công trình tập trung vào lý luận chung hoặc nghiên cứu KNGT ở người lớn và học sinh phổ thông. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc xác định cấu trúc mức độ biểu hiện KNGT của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động chủ đạo là trò chơi ĐVTCĐ, đồng thời khảo sát thực trạng cụ thể trên mẫu trẻ em tại tỉnh miền núi Tuyên Quang để làm căn cứ đề xuất biện pháp can thiệp tâm lý - giáo dục.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của Tâm lý học hoạt động, Tâm lý học nhân cách, Tâm lý học phát triển và Tâm lý học xã hội, vận dụng các khái niệm công cụ:

  • Kỹ năng: Là sự vận dụng các tri thức, kinh nghiệm của chủ thể vào thực hiện có hiệu quả một hoạt động nào đó. Luận án tiếp thu quan điểm của K.K. Platonov, G.G. Golubev, N.D. Levitov và mô hình 5 giai đoạn hình thành hành động trí óc của P.Ya. Galperin (thiết lập cơ sở định hướng, hành động vật chất/vật chất hóa, hành động ngôn ngữ bên ngoài, hành động với lời nói thầm, hành động trong trí óc).
  • Giao tiếp của trẻ mẫu giáo: Quá trình tiếp xúc tâm lý của trẻ với người khác nhằm mục đích truyền đạt, tiếp nhận, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm và hành động qua ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, qua đó nhân cách được hình thành và phát triển.
  • Trò chơi ĐVTCĐ: Dạng trò chơi sáng tạo đặc trưng của tuổi mẫu giáo, trong đó trẻ thực hiện các vai của người lớn theo một chủ đề nhất định và thực hiện hành động theo chức năng xã hội của vai đó trong hoàn cảnh tưởng tượng. Cấu trúc trò chơi gồm 7 thành tố: Chủ đề chơi, Nội dung chơi, Vai chơi, Hành động chơi, Luật chơi, Đồ chơi/vật thay thế, Hoàn cảnh tưởng tượng, Mối quan hệ trong khi chơi (gồm quan hệ thực và quan hệ chơi theo V.S. Mukhina).
  • Cấu trúc 3 nhóm KNGT của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ:
    1. Kỹ năng nghe hiểu lời nói giao tiếp trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ.
    2. Kỹ năng sử dụng lời nói giao tiếp trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ.
    3. Kỹ năng thực hiện một số quy tắc giao tiếp thông thường trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ.
Khung cấu trúc KNGT của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ:

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp định tính và định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa tài liệu khoa học.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp quan sát: Quan sát hành vi, thao tác chơi, lời nói và thái độ của trẻ trong các buổi tổ chức trò chơi ĐVTCĐ tại lớp học (phương pháp chủ yếu).
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát đánh giá của giáo viên mầm non về mức độ biểu hiện KNGT của trẻ và các yếu tố ảnh hưởng (phương pháp chủ yếu).
    • Phương pháp phân tích chân dung tâm lý điển hình: Đi sâu phân tích các trường hợp trẻ có biểu hiện KNGT ở mức độ tốt, trung bình và yếu kém (phương pháp chủ yếu).
    • Phương pháp bổ trợ: Phỏng vấn sâu giáo viên/phụ huynh, phương pháp chuyên gia, phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của trẻ.
  • Công cụ và kỹ thuật xử lý dữ liệu:
    • Thiết lập thang đánh giá, bảng kiểm quan sát và cách tính điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC).
    • Nhập liệu và xử lý thống kê toán học bằng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 để tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm, kiểm định sai biệt và phân tích tương quan giữa các nhóm kỹ năng và các nhóm yếu tố tác động.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề

Chương này tổng kết có hệ thống các nghiên cứu ở nước ngoài và Việt Nam về khái niệm kỹ năng, giao tiếp, kỹ năng giao tiếp và hoạt động trò chơi ĐVTCĐ. Tác giả chỉ ra các giai đoạn phát triển nhận thức và tính chủ động trong giao tiếp của trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi có vốn từ từ 3.500 đến 4.500 từ, bắt đầu chuyển từ tuân thủ mệnh lệnh cụ thể sang tiếp thu các quy tắc chuẩn mực khái quát). Chương 1 khẳng định khoảng trống tri thức về KNGT của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ tại địa bàn miền núi Việt Nam, xác lập tính cấp thiết của đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề

Tác giả xây dựng hệ thống khái niệm công cụ, phân tích bản chất tâm lý của KNGT ở lứa tuổi 5-6 tuổi và mối quan hệ giữa trò chơi ĐVTCĐ với sự phát triển tâm lý. Chương 2 phân tích chi tiết đặc điểm tâm lý lứa tuổi như hiện tượng "duy kỷ", tính xúc cảm, tính tích cực giao tiếp, đồng thời luận giải cấu trúc trò chơi ĐVTCĐ (chủ đề, nội dung, vai chơi, hành động chơi, luật chơi, đồ chơi, hoàn cảnh tưởng tượng, quan hệ thực và quan hệ chơi). Chương này cụ thể hóa hệ thống tiêu chí và chỉ báo của 3 nhóm kỹ năng thành phần thông qua Bảng 2.1 (Biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ) và phân loại các nhóm yếu tố chủ quan (bản thân trẻ) và khách quan (hoạt động chơi, giáo viên, gia đình, bạn bè, không khí lớp học).

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày tiến trình tổ chức nghiên cứu qua các giai đoạn từ năm 2013 đến 2016, mô tả chi tiết mẫu khách thể nghiên cứu gồm giáo viên và trẻ 5-6 tuổi tại Trường Mầm non Tân Trào (nội thành TP. Tuyên Quang) và Trường Mầm non Hòa Phú (vùng cao huyện Chiêm Hóa) qua Bảng 3.1 (Đặc điểm khách thể nghiên cứu). Tác giả mô tả quy trình thiết kế công cụ đo lường, thang đánh giá 3 mức độ (Tốt/Cao, Trung bình, Yếu/Chưa đạt), các tiêu chuẩn cho điểm bảng kiểm quan sát và phiếu điều tra giáo viên, cùng quy trình xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm SPSS 22.0.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi tỉnh Tuyên Quang qua trò chơi đóng vai theo chủ đề

Chương 4 là chương thực nghiệm trọng tâm, trình bày toàn bộ số liệu khảo sát và phân tích định lượng, định tính thông qua các bảng thống kê và biểu đồ:

Ký hiệu mục / bảng trong văn bản Nội dung phản ánh chính
Bảng 4.1 Đánh giá chung mức độ biểu hiện KNGT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ
Bảng 4.2 Biểu hiện kỹ năng nghe hiểu lời nói giao tiếp qua trò chơi ĐVTCĐ
Bảng 4.3 Biểu hiện kỹ năng sử dụng lời nói giao tiếp qua trò chơi ĐVTCĐ
Bảng 4.4 Biểu hiện kỹ năng thực hiện một số quy tắc giao tiếp qua trò chơi ĐVTCĐ
Bảng 4.5 Mối tương quan giữa các kỹ năng thành phần trong KNGT của trẻ qua trò chơi ĐVTCĐ
Bảng 4.6 Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến KNGT của trẻ qua trò chơi ĐVTCĐ
Bảng 4.7 Nhóm yếu tố khách quan ảnh hưởng đến KNGT của trẻ qua trò chơi ĐVTCĐ
Bảng 4.8 Mối tương quan giữa các nhóm yếu tố với biểu hiện KNGT của trẻ qua trò chơi ĐVTCĐ
Biểu đồ 4.1, 4.2, 4.3 So sánh mức độ biểu hiện KNGT theo trường (địa bàn), theo giới tính và theo thành phần dân tộc

Chương này cũng phân tích các trường hợp tâm lý điển hình đại diện cho các mức độ phát triển KNGT khác nhau, từ đó đề xuất hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm phát triển KNGT cho trẻ 5-6 tuổi tỉnh Tuyên Quang thông qua khâu tổ chức trò chơi ĐVTCĐ.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Bổ sung và hệ thống hóa các vấn đề lý luận về kỹ năng, giao tiếp, trò chơi ĐVTCĐ và KNGT của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động trò chơi ĐVTCĐ.
  • Xác định và kiểm chứng mô hình cấu trúc KNGT của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ gồm 3 nhóm kỹ năng thành phần: (1) Kỹ năng nghe hiểu lời nói giao tiếp; (2) Kỹ năng sử dụng lời nói giao tiếp; (3) Kỹ năng thực hiện một số quy tắc giao tiếp thông thường.
  • Xác định hệ thống các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến KNGT của trẻ qua trò chơi ĐVTCĐ gồm: nhóm yếu tố chủ quan từ phía bản thân trẻ và nhóm yếu tố khách quan (hoạt động vui chơi, giáo viên, gia đình, bạn bè và bầu không khí tâm lý lớp học).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Khảo sát và làm rõ thực trạng mức độ biểu hiện KNGT của trẻ 5-6 tuổi tại tỉnh Tuyên Quang qua trò chơi ĐVTCĐ đạt mức độ trung bình, đồng thời chỉ ra sự phân hóa, khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các trường (trường nội thành Tân Trào có mức độ biểu hiện cao hơn trường vùng sâu Hòa Phú), theo giới tính và theo thành phần dân tộc.
  • Chứng minh bằng tương quan thống kê (Bảng 4.8) rằng trong các nhóm yếu tố ảnh hưởng, yếu tố thuộc về bản thân trẻ (nhận thức, nhu cầu, tính tích cực) và yếu tố tổ chức hoạt động vui chơi (cách thức tổ chức, tạo môi trường chơi, chuẩn bị đồ chơi/vật thay thế) có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến mức độ biểu hiện KNGT của trẻ trong mẫu khảo sát.
  • Đề xuất hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo dục thực tiễn cho giáo viên mầm non nhằm nâng cao chất lượng tổ chức trò chơi ĐVTCĐ, giúp trẻ rèn luyện KNGT trước khi chuyển tiếp lên cấp tiểu học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

Theo phạm vi văn bản xác định:

  • Địa bàn nghiên cứu định lượng và định tính mới chỉ tập trung khảo sát tại hai trường mầm non đại diện cho hai vùng sinh thái - xã hội của tỉnh Tuyên Quang (Trường Mầm non Tân Trào - thành phố Tuyên Quang và Trường Mầm non Hòa Phú - huyện Chiêm Hóa).
  • Thời gian khảo sát giới hạn trong khung từ năm 2013 đến năm 2016.
  • Nghiên cứu chỉ xem xét biểu hiện KNGT trong phạm vi hoạt động trò chơi ĐVTCĐ, chưa mở rộng đo lường sang các hoạt động sinh hoạt, lao động tự phục vụ hoặc hoạt động học tập có chủ đích khác của trẻ ở trường mầm non.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi khảo sát khách thể trên diện rộng ở các trường mầm non thuộc các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa khác của các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc.
  • Nghiên cứu so sánh mức độ biểu hiện KNGT của trẻ trong trò chơi ĐVTCĐ với các dạng hoạt động khác trong chế độ sinh hoạt hàng ngày tại trường mầm non.
  • Khảo sát sâu hơn các rào cản về phương ngữ và ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của trẻ em thuộc các dân tộc thiểu số khi tham gia giao tiếp trong trò chơi ĐVTCĐ.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề thuộc chuyên ngành Tâm lý học phát triển, Tâm lý học lứa tuổi và Giáo dục học mầm non. Phần tổng quan tài liệu (Chương 1) và cơ sở lý luận về cấu trúc trò chơi ĐVTCĐ cùng 3 nhóm KNGT (Chương 2) cung cấp khung phân tích chuẩn mực.
  • Giáo viên mầm non và cán bộ quản lý giáo dục mầm non: Cung cấp thang đo, bảng kiểm quan sát thực tế (Bảng 2.1) để theo dõi, đánh giá mức độ phát triển KNGT của trẻ 5-6 tuổi. Đồng thời, phần các biện pháp tâm lý - sư phạm (Chương 4) cung cấp phương pháp tổ chức trò chơi ĐVTCĐ phù hợp với điều kiện các trường mầm non vùng đô thị cũng như vùng sâu, vùng xa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ gồm những nhóm kỹ năng thành phần nào?

Theo cơ sở lý luận và kết quả nghiên cứu của luận án, KNGT của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ được cấu thành từ 3 nhóm kỹ năng:

  1. Kỹ năng nghe hiểu lời nói giao tiếp trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ.
  2. Kỹ năng sử dụng lời nói giao tiếp trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ.
  3. Kỹ năng thực hiện một số quy tắc giao tiếp thông thường trong thực hiện trò chơi ĐVTCĐ.

2. Mẫu khách thể khảo sát thực tiễn của luận án được chọn tại những địa bàn nào?

Luận án khảo sát trên trẻ em và giáo viên tại các lớp mẫu giáo 5-6 tuổi thuộc hai trường mầm non trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2013-2016:

  • Trường Mầm non Tân Trào (đại diện cho khu vực nội thành thuộc thành phố Tuyên Quang).
  • Trường Mầm non Hòa Phú (đại diện cho khu vực vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Chiêm Hóa).

3. Thực trạng mức độ biểu hiện KNGT của trẻ 5-6 tuổi tỉnh Tuyên Quang được đánh giá ở mức nào?

Kết quả nghiên cứu thực tiễn (trình bày tại Bảng 4.1) cho thấy mức độ biểu hiện KNGT chung của trẻ 5-6 tuổi tỉnh Tuyên Quang qua trò chơi ĐVTCĐ chỉ đạt ở mức độ trung bình. Luận án cũng chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về KNGT giữa các trường (trường nội thành cao hơn trường vùng sâu), giữa các nhóm giới tính và giữa các thành phần dân tộc.

4. Những nhóm yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến KNGT của trẻ theo kết quả nghiên cứu?

Theo phân tích tương quan tại Chương 4 (Bảng 4.6, 4.7 và 4.8), trong số các yếu tố chủ quan và khách quan được khảo sát, nhóm yếu tố thuộc về bản thân trẻ (nhận thức, nhu cầu, tính tích cực) và nhóm yếu tố thuộc về hoạt động vui chơi (nội dung, phương thức tổ chức, phương tiện đồ chơi) có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến biểu hiện KNGT của trẻ trong mẫu nghiên cứu.

5. Luận án sử dụng phần mềm và kỹ thuật thống kê nào để xử lý số liệu?

Luận án sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 để xử lý dữ liệu điều tra và quan sát. Các kỹ thuật thống kê bao gồm tính điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm biến số (trường, giới tính, dân tộc) và phân tích mối tương quan giữa các kỹ năng thành phần cũng như giữa các yếu tố ảnh hưởng với KNGT của trẻ.


Kết luận

Luận án của tác giả Phạm Thị Thu Thủy đã xây dựng hoàn chỉnh khung lý luận và xác định 3 nhóm kỹ năng giao tiếp thành phần của trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động chủ đạo là trò chơi đóng vai theo chủ đề. Khảo sát thực nghiệm tại hai trường mầm non đại diện của tỉnh Tuyên Quang bằng phần mềm SPSS 22.0 đã chỉ ra thực trạng kỹ năng giao tiếp của trẻ đạt mức độ trung bình và chịu tác động mạnh nhất bởi yếu tố bản thân trẻ cùng phương thức tổ chức hoạt động vui chơi. Các biện pháp tâm lý - sư phạm được đề xuất trong công trình là cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ công tác chăm sóc, giáo dục và chuẩn bị tâm thế cho trẻ mẫu giáo lớn trước khi bước vào lớp 1.