Tổng quan luận án

Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu

Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Giáo dục năm 2005 (Điều 10), quyền bình đẳng trong tiếp cận giáo dục của trẻ em các dân tộc thiểu số (DTTS) được khẳng định rõ nét. Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc quy định phát triển giáo dục vùng DTTS theo chương trình chung quốc gia, lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ chính thức để giảng dạy và giao tiếp. Khi bước vào trường phổ thông, trẻ em DTTS phải sử dụng tiếng Việt làm công cụ học tập và tiếp nhận tri thức. Do đó, việc hình thành kĩ năng giao tiếp (KNGT) tiếng Việt ngay từ lứa tuổi mẫu giáo 5 - 6 tuổi là điều kiện tiên quyết giúp trẻ chuẩn bị tâm thế vào lớp 1.

Tại tỉnh Lào Cai, người H'mông chiếm tỉ lệ dân số lớn (khoảng 40% dân số toàn tỉnh theo số liệu năm 2010), sinh sống tập trung tại các vùng núi cao hiểm trở, điều kiện giao lưu xã hội hạn chế. Trẻ em 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông chủ yếu sử dụng tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt gia đình và bản làng, dẫn đến tình trạng vốn từ vựng tiếng Việt nghèo nàn, phát âm sai lệch, thụ động và rụt rè khi giao tiếp bằng tiếng Việt tại trường học. Trong khi đó, giáo viên mầm non còn lúng túng, thiếu các biện pháp sư phạm chuyên biệt phù hợp với đặc thù ngôn ngữ và văn hóa H'mông khi tổ chức các hoạt động giáo dục tích hợp theo chủ đề.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp của trẻ mầm non và việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, song chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về biện pháp hình thành KNGT tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông thông qua các hoạt động giáo dục tích hợp theo chủ đề ở trường mầm non vùng cao.

Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng và đề xuất hệ thống biện pháp hình thành KNGT tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông thông qua các hoạt động giáo dục tích hợp theo chủ đề ở trường mầm non trên địa bàn tỉnh Lào Cai, nhằm nâng cao tính tự tin, chủ động giao tiếp tiếng Việt và chuẩn bị nền tảng học tập khi trẻ bước vào trường phổ thông.

Câu hỏi và giả thuyết khoa học

  • Giả thuyết khoa học: Sự hình thành KNGT tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông phụ thuộc trực tiếp vào quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường mầm non. Nếu giáo viên mầm non xây dựng và thực hiện các biện pháp hấp dẫn, phù hợp với đặc điểm phát triển tâm lí và văn hóa của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông, tạo môi trường cho trẻ thường xuyên thực hành giao tiếp tiếng Việt trong các hoạt động giáo dục tích hợp theo chủ đề, thì KNGT tiếng Việt của trẻ sẽ được hình thành và phát triển bền vững.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc hình thành KNGT tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông.
  2. Khảo sát và đánh giá thực trạng việc hình thành KNGT tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông tại các trường mầm non vùng cao tỉnh Lào Cai.
  3. Đề xuất hệ thống biện pháp hình thành KNGT tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông qua các hoạt động giáo dục tích hợp theo chủ đề ở trường mầm non.
  4. Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình hình thành KNGT tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông qua các hoạt động giáo dục tích hợp theo chủ đề ở trường mầm non.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp hình thành KNGT tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông qua các hoạt động giáo dục tích hợp theo chủ đề ở trường mầm non.
  • Phạm vi khách thể và địa bàn nghiên cứu:
    • Khảo sát thực trạng: Tiến hành trên 285 giáo viên mầm non và 337 trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường mầm non vùng cao thuộc 5 huyện của tỉnh Lào Cai: Sa Pa, Bát Xát, Mường Khương, Si Ma Cai và Bắc Hà.
    • Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành trên 8 giáo viên mầm non và 102 trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông tại hai trường mầm non thuộc huyện Si Ma Cai và huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
  • Thời gian hoàn thành: Luận án bảo vệ năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả hệ thống hóa các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài theo 4 nhóm vấn đề:

[Hướng 1: Kĩ năng]    [Hướng 2: KNGT]            [Hướng 3: GT Mầm non]    [Hướng 4: GT Trẻ DTTS]
- Kĩ thuật thao tác   - Thiết lập quan hệ        - Quốc tế: Dilokhne,     - Triệu Thị Liên (2010)
  (Kruchetxki, Thủy)    (Dakharov, Carnegie)       Keliar, Lixinna        - Bùi Kim Tuyến (2012)
- Năng lực chủ thể    - Điều khiển quá trình     - VN: Nguyễn Thạc,       - Nguyễn Thị Oanh
  (Golubev, Uẩn...)     (Leonchiev, Rakhmatulina)  Nguyễn Xuân Thức...    - DA Song ngữ UNICEF

Các hướng nghiên cứu về kĩ năng và kĩ năng giao tiếp

  • Quan niệm về kĩ năng:
    • Khuynh hướng kĩ thuật thao tác: V. Kruchetxki và Trần Trọng Thủy xem kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động, là phương thức thực hiện hành động đúng đắn dựa trên tri thức.
    • Khuynh hướng năng lực: K. Golubev, Kixengov, Paul Hersey, Ken Blanchard, P. Ruđich, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc xem kĩ năng là năng lực thực hiện có kết quả công việc với chất lượng cần thiết trong các điều kiện cụ thể.
  • Quan niệm về kĩ năng giao tiếp:
    • Năng lực thiết lập mối quan hệ: V. Dakharov (phân loại 4 nhóm KNGT), Wang Gang (phân loại 6 đối tượng giao tiếp), Dale Carnegie (6 nghệ thuật gây thiện cảm), Nguyễn Văn Lê, Trần Tuấn Lộ, Trần Đình Tuấn (5 quy tắc kết bạn).
    • Năng lực điều khiển quá trình giao tiếp: A. Leonchiev, Pơlotnhibôva, Cudơmina, V. Rakhmatulina phân chia KNGT thành 3 nhóm: định hướng, định vị, và điều chỉnh/điều khiển quá trình giao tiếp.

Các nghiên cứu về giao tiếp của trẻ mầm non

  • Nghiên cứu quốc tế: Iudenphin Dilokhne (Hungary) nghiên cứu vai trò của giao tiếp trực tiếp trong phát triển ngôn ngữ mẫu giáo; Maria Keliar (Ba Lan) nghiên cứu phát triển ngôn ngữ giao tiếp; Perreklicman (Thụy Sĩ) chỉ ra ảnh hưởng của giao tiếp bạn bè đến tư duy; Spitz, Klaus, Kenell và Nguyễn Khắc Viện nghiên cứu giao tiếp mẹ - con và trí tuệ cảm xúc; V. Mukhina phân tích nhu cầu giao tiếp với người lớn trong việc lĩnh hội ngữ âm, từ vựng; M. Lixinna chứng minh giao tiếp "hợp tác trí tuệ" và hiện tượng "cái gương vô hình" ở tuổi mẫu giáo.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Nguyễn Thị Ánh Tuyết nghiên cứu giáo dục trẻ trong nhóm bạn bè; Lê Xuân Hồng khảo sát đặc điểm giao tiếp trong nhóm chơi ghép lớp không cùng độ tuổi; Ngô Công Hoàn nghiên cứu ứng xử sư phạm của giáo viên; Nguyễn Thạc nghiên cứu nhu cầu và xung đột giao tiếp ở trẻ 5 - 6 tuổi; Nguyễn Xuân Thức và Nguyễn Thạc nghiên cứu tính chủ động giao tiếp; Nguyễn Xuân Thức (luận án tiến sĩ) xác định 3 chỉ số tính tích cực giao tiếp (nhu cầu, tính chủ động, sự thích ứng); Hoàng Thị Phương nghiên cứu hành vi giao tiếp có văn hóa.

Các nghiên cứu về giao tiếp tiếng Việt của trẻ em dân tộc thiểu số

  • Đề tài của Triệu Thị Liên tại Hà Giang nghiên cứu giải pháp tăng cường nhận thức tiếng Việt cho trẻ H’mông, Dao, Cờ Lao.
  • Bùi Kim Tuyến nghiên cứu dạy tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai qua 4 phương thức trực quan hành động (với cơ thể, đồ vật, hình ảnh, câu chuyện).
  • Nguyễn Thị Oanh nghiên cứu phát triển ngôn ngữ nói cho học sinh tiểu học DTTS; Trần Thị Xuyến khảo sát đặc điểm giao tiếp của học sinh dân tộc Chăm tại Ninh Thuận.
  • Dự án Giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ của Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với UNICEF (2008–2015) tại Lào Cai, Gia Lai, Trà Vinh chỉ ra cơ chế "chuyển mã/giải mã" dựa trên tiếng mẹ đẻ và sự cần thiết phải song hành phát triển ngôn ngữ thứ nhất (NN1) với ngôn ngữ thứ hai (NN2).

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc phát triển vốn từ, phát triển ngôn ngữ chung hoặc nghiên cứu tính tích cực giao tiếp trong hoạt động vui chơi. Luận án này tập trung giải quyết khoảng trống: xây dựng quy trình và biện pháp sư phạm chuyên biệt để hình thành hệ thống 4 KNGT tiếng Việt thành phần cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H'mông thông qua phương thức tích hợp vào các chủ đề giáo dục mầm non tại địa bàn miền núi Lào Cai.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các quan điểm tiếp cận

Luận án vận dụng 4 quan điểm tiếp cận khoa học:

  1. Tiếp cận hoạt động: Dựa trên tâm lí học Mác-xít và cấu trúc vĩ mô của hoạt động (A. Leonchiev: Hoạt động - Hành động - Thao tác), KNGT được xem là một mức độ của hành động giao tiếp, hình thành và biến đổi thông qua hoạt động thực tiễn của trẻ.
  2. Tiếp cận tích hợp: Tích hợp việc rèn luyện kĩ năng nghe, nói, tương tác tiếng Việt vào toàn bộ các hoạt động giáo dục hằng ngày (học có chủ đích, vui chơi, hoạt động ngoài trời, sinh hoạt).
  3. Tiếp cận cá nhân: Tôn trọng đặc điểm tâm lí, nhịp độ lĩnh hội và tính nhút nhát đặc trưng của từng cá nhân trẻ người H’mông.
  4. Tiếp cận văn hóa: Xem giao tiếp tiếng Việt của trẻ H’mông là sự giao thoa văn hóa - ngôn ngữ H'mông - Việt, khai thác vốn văn hóa bản địa (truyện kể, trò chơi dân gian H'mông) làm chất liệu tổ chức hoạt động.

Khái niệm công cụ và cấu trúc kĩ năng giao tiếp tiếng Việt

  • Hình thành KNGT tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông: Là quá trình làm nảy sinh ở trẻ khả năng sử dụng hợp lí tiếng Việt và các phương tiện phi ngôn ngữ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp nhằm đạt được mục đích giao tiếp.
  • Hệ thống 4 kĩ năng thành phần:
    • KN1: Kĩ năng nghe hiểu lời nói tiếng Việt.
    • KN2: Kĩ năng độc thoại bằng tiếng Việt.
    • KN3: Kĩ năng đàm thoại bằng tiếng Việt.
    • KN4: Kĩ năng phối hợp ngôn ngữ tiếng Việt với các phương tiện phi ngôn ngữ.
  • Thang đánh giá 4 mức độ:
    • Mức 1 (Thành thục): Sử dụng thành thạo, linh hoạt, phù hợp hoàn cảnh, không có hành vi thừa.
    • Mức 2 (Đã có nhưng chưa thành thục): Sử dụng hợp lí trong điều kiện quen thuộc, tốc độ còn chậm, còn động tác thừa.
    • Mức 3 (Có biểu hiện): Đã biết dùng nhưng chưa phù hợp đối tượng/ngữ cảnh, nhiều lỗi sai và hành vi thừa.
    • Mức 4 (Chưa có kĩ năng): Không sử dụng được tiếng Việt ngay cả khi có sự hỗ trợ của giáo viên.

So sánh ngôn ngữ học tiếng H'mông và tiếng Việt

Luận án chỉ ra sự tương đồng và khác biệt về loại hình học giữa hai ngôn ngữ:

Tiêu chí Tiếng H'mông Tiếng Việt
Loại hình ngôn ngữ Đơn lập, không biến đổi hình thái. Đơn lập, không biến đổi hình thái.
Ngữ âm & Vần 59 phụ âm, 11 nguyên âm, 26 vần (chỉ có vần mở, không có vần khép). Có tiền âm mũi và tổ hợp phụ âm (bl, pl, fl). 11 nguyên âm, 155 vần (gồm cả vần mở và vần khép). Không có tiền âm mũi.
Thanh điệu 8 thanh điệu, biểu thị bằng 7 chữ cái cuối âm tiết (k, l, s, r, v, x, z) và 1 thanh không dấu. Không có thanh ngã và thanh nặng. 6 thanh điệu, biểu thị bằng dấu thanh (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, không dấu).
Cấu trúc danh ngữ Yếu tố chỉ sở hữu đứng trước danh từ trung tâm (cur tsêr = nhà tôi). Yếu tố chỉ sở hữu đứng sau danh từ trung tâm (nhà của tôi).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa tài liệu tâm lí học, giáo dục học, ngôn ngữ học và dân tộc học.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp quan sát: Quan sát hành vi giao tiếp của trẻ và cách tổ chức hoạt động của giáo viên mầm non trong các chủ đề.
    • Phương pháp điều tra viết (Anket): Điều tra 285 giáo viên mầm non và phụ huynh tại 5 huyện vùng cao Lào Cai.
    • Phương pháp đàm thoại: Phỏng vấn sâu cán bộ quản lí, giáo viên và trò chuyện trực tiếp với 337 trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H'mông.
    • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích tranh vẽ, tạo hình, sản phẩm học tập của trẻ.
    • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên gia giáo dục mầm non và chuyên gia dân tộc học.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế thực nghiệm đối chứng 2 vòng (TN1 - ĐC1 và TN2 - ĐC2) trên 102 trẻ và 8 giáo viên tại Si Ma Cai và Bắc Hà.
  • Phương pháp xử lí số liệu: Ứng dụng thống kê toán học với phần mềm SPSS 1.60 tính toán tỉ lệ phần trăm, điểm trung bình, độ lệch chuẩn và hệ số tương quan giữa các kĩ năng thành phần.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm nền tảng và phân tích các yếu tố chi phối việc học tiếng Việt của trẻ em H'mông:

  • Cơ sở tâm lí - xã hội: Làm rõ bản chất của giao tiếp, chức năng giao tiếp (thông tin liên lạc, điều khiển/điều chỉnh hành vi, cảm xúc, phối hợp hành động, động viên/kích thích) và vai trò của giao tiếp đối với việc hình thành nhân cách trẻ mầm non.
  • Đặc trưng văn hóa và ngôn ngữ H'mông tại Lào Cai: Người H'mông tại Lào Cai có khoảng 120.000 người (năm 2010), gồm 4 ngành chính: H’mông Hoa (H’mông Lềnh, chiếm 70%), H’mông Đen (H’mông Dú), H’mông Trắng (H’mông Đu), và H’mông Xanh (H’mông Chúa). Tác giả làm rõ tập quán cư trú biệt lập trên vùng cao, tâm lí giao tiếp khép kín, trọng tình cảm, chân thành nhưng rụt rè trước người lạ.
  • Đặc điểm giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi H'mông:
    • Về nhu cầu: Ban đầu e dè, nhút nhát; khi được khích lệ thì thể hiện sự chú ý, bắt chước phát âm, mong muốn bộc lộ bản thân nhưng dễ chuyển về nói tiếng mẹ đẻ khi gặp khó khăn.
    • Về nội dung: Đơn điệu, tập trung vào 4 chủ đề gần gũi: ăn uống (nói nhiều nhất, hào hứng nhất), học tập, gia đình và trò chơi dân gian; cấu trúc câu thường thiếu chủ ngữ - vị ngữ, nói ngược hoặc dịch nguyên nghĩa từ ngữ pháp tiếng H'mông sang tiếng Việt.
    • Về phạm vi: Khép kín trong lớp học và gia đình, ít có cơ hội tiếp xúc với môi trường tiếng Việt chuẩn mực ngoài xã hội.
  • Cơ chế hình thành kĩ năng: Phân tích quá trình chuyển hóa từ tri thức đến thao tác qua 3 giai đoạn (nhận thức mục đích -> làm thử theo mẫu -> luyện tập củng cố) và thiết lập cấu trúc 4 kĩ năng thành phần cùng 4 mức độ đánh giá.

Chương 2: Thực trạng hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông trong các hoạt động giáo dục tích hợp theo chủ đề ở trường mầm non

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng trên diện rộng tại 5 huyện vùng cao tỉnh Lào Cai (Sa Pa, Bát Xát, Mường Khương, Si Ma Cai, Bắc Hà):

  • Quy mô khảo sát: 285 giáo viên mầm non và 337 trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi người H'mông.
  • Nhận thức của giáo viên và phụ huynh:
    • 100% giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc hình thành KNGT tiếng Việt cho trẻ trước khi vào lớp 1. Tuy nhiên, mức độ nhận thức sâu về bản chất KNGT (bao gồm cả ngôn ngữ và phi ngôn ngữ) còn chưa đồng đều, có sự chênh lệch theo thâm niên công tác và trình độ chuyên môn (giữa trình độ Trung cấp, Cao đẳng và Đại học sư phạm mầm non).
    • Đa số phụ huynh nhận thức được sự cần thiết nhưng tại gia đình vẫn duy trì 100% việc giao tiếp bằng tiếng H'mông, rất ít khi sử dụng tiếng Việt với trẻ.
  • Thực trạng sử dụng hoạt động giáo dục và các biện pháp sư phạm:
    • Giáo viên chủ yếu tập trung dạy tiếng Việt trong hoạt động học phát triển ngôn ngữ (làm quen văn học, chữ cái), chưa khai thác triệt để tính tích hợp trong các hoạt động khác như hoạt động chơi ở các góc, hoạt động ngoài trời, giờ đón/trả trẻ hay hoạt động lao động, tham quan.
    • Các biện pháp giáo viên sử dụng phổ biến mang tính truyền thống: dùng lời nói mẫu, giải thích từ ngữ, yêu cầu trẻ nhắc lại. Các biện pháp tạo tình huống giao tiếp, đóng vai, trải nghiệm thực tế, giao lưu tương tác đa chiều giữa trẻ - trẻ còn ít được áp dụng.
  • Thực trạng mức độ KNGT tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H'mông:
    • Tỉ lệ trẻ đạt Mức 1 (Thành thục) rất thấp; phần lớn trẻ tập trung ở Mức 3 (Có biểu hiện) và Mức 4 (Chưa có kĩ năng).
    • Xét theo 4 kĩ năng thành phần: KN1 (nghe hiểu) đạt kết quả cao nhất; KN2 (độc thoại) và KN3 (đàm thoại) đạt mức thấp nhất do trẻ thiếu vốn từ, phát âm sai dấu thanh, nói ngọng và lúng túng trong đặt câu hỏi; KN4 (phối hợp phi ngôn ngữ) chưa được trẻ sử dụng một cách chủ động, tự nhiên.
    • Có sự chênh lệch rõ rệt về KNGT tiếng Việt của trẻ theo địa bàn cư trú (trẻ ở các xã vùng cao khó khăn, điểm trường lẻ đạt mức thấp hơn trẻ ở khu vực trung tâm thị trấn, huyện lị).

Chương 3: Biện pháp hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông qua các hoạt động giáo dục tích hợp theo chủ đề ở trường mầm non

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm và trình bày kết quả thực nghiệm:

  • 4 nguyên tắc xây dựng biện pháp:
    1. Nguyên tắc đảm bảo thực hiện mục tiêu, chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi.
    2. Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí, văn hóa của trẻ H’mông.
    3. Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển (đi từ đơn giản đến phức tạp, phát triển vùng phát triển gần nhất).
    4. Nguyên tắc đảm bảo tạo ra nhiều cơ hội thực hành giao tiếp tiếng Việt cho trẻ.
  • Hệ thống các nhóm biện pháp sư phạm cụ thể:
    • Nhóm biện pháp 1: Xây dựng môi trường giao tiếp tiếng Việt phong phú, thân thiện, mang đậm bản sắc văn hóa địa phương (trang trí góc hoạt động bằng hình ảnh, đồ vật gắn chữ tiếng Việt; sưu tầm đồ dùng, trang phục, nhạc cụ dân tộc H'mông có ghi chú tiếng Việt).
    • Nhóm biện pháp 2: Tích hợp hình thành KNGT tiếng Việt vào các hoạt động học có chủ đích theo chủ đề (Chủ đề Bản thân, Gia đình, Trường mầm non, Nghề nghiệp, Thế giới thực vật/động vật, Quê hương đất nước). Sử dụng hệ thống trò chơi ngôn ngữ, tranh ảnh trực quan và kể chuyện sáng tạo.
    • Nhóm biện pháp 3: Tổ chức rèn luyện KNGT tiếng Việt qua hoạt động vui chơi (hoạt động chơi góc đóng vai theo chủ đề: Bác sĩ, Bán hàng, Gia đình; trò chơi dân gian H'mông có lời thoại tiếng Việt).
    • Nhóm biện pháp 4: Tăng cường giao tiếp tiếng Việt trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày, hoạt động ngoài trời, giờ đón và trả trẻ thông qua đàm thoại trực tiếp giữa cô và trẻ, giữa trẻ với bạn bè.
    • Nhóm biện pháp 5: Phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình trong việc tạo lập môi trường giao tiếp tiếng Việt tại cộng đồng (hướng dẫn phụ huynh cách trò chuyện tiếng Việt đơn giản với con tại nhà).
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm:
    • Triển khai qua 2 đợt thực nghiệm tại Si Ma Cai và Bắc Hà trên nhóm Thực nghiệm (TN) và nhóm Đối chứng (ĐC) với tổng số 102 trẻ.
    • Trước thực nghiệm: Trình độ KNGT tiếng Việt của nhóm TN và nhóm ĐC tương đương nhau, không có sự sai biệt có ý nghĩa thống kê.
    • Sau thực nghiệm: Nhóm TN có sự chuyển biến rõ rệt ở cả 4 kĩ năng thành phần (KN1, KN2, KN3, KN4). Tỉ lệ trẻ đạt Mức 1 và Mức 2 ở nhóm TN tăng vọt, trong khi Mức 4 giảm mạnh so với nhóm ĐC (chỉ duy trì phương pháp truyền thống).
    • Phân tích tương quan SPSS khẳng định mối tương quan thuận, chặt chẽ giữa kĩ năng nghe hiểu (KN1) với kĩ năng đàm thoại (KN3) và độc thoại (KN2), chứng minh tính khả thi, đúng đắn của các biện pháp sư phạm đã đề xuất.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lí luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lí luận về kĩ năng, kĩ năng giao tiếp và quá trình hình thành KNGT tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H'mông theo quan điểm tiếp cận hoạt động, tiếp cận tích hợp và tiếp cận văn hóa.
  • Xác lập khung cấu trúc KNGT tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc thiểu số gồm 4 kĩ năng thành phần (nghe hiểu, độc thoại, đàm thoại, phối hợp phi ngôn ngữ) cùng hệ thống tiêu chí và 4 mức độ đánh giá cụ thể, khoa học.
  • Xác định 4 nguyên tắc sư phạm định hướng cho việc thiết kế biện pháp phát triển ngôn ngữ thứ hai cho trẻ mầm non vùng cao.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực trạng toàn diện, khách quan về KNGT tiếng Việt của 337 trẻ 5 - 6 tuổi H'mông và thực trạng 285 giáo viên mầm non tại 5 huyện vùng cao tỉnh Lào Cai, chỉ ra các nguyên nhân cản trở khả năng giao tiếp của trẻ (vốn từ nghèo nàn, phát âm sai lệch do chuyển mã ngôn ngữ, thói quen gia đình, biện pháp dạy học đơn điệu).
  • Xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ, có tính ứng dụng cao, tích hợp vào toàn bộ chế độ sinh hoạt và các chủ đề giáo dục mầm non, được kiểm chứng hiệu quả qua thực nghiệm đối chứng 2 vòng.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo thực hành cho giáo viên mầm non vùng dân tộc thiểu số trong việc đổi mới phương pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ trước tuổi đến trường.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở GD&ĐT tỉnh Lào Cai: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi chuyên biệt cho các lớp mẫu giáo vùng DTTS; tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên đề về phương pháp dạy tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai và kiến thức ngôn ngữ, văn hóa H'mông cho giáo viên mầm non.
  • Đối với các trường Cao đẳng, Đại học Sư phạm: Bổ sung học phần hoặc nội dung giảng dạy về phương pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số và văn hóa các dân tộc vùng cao vào chương trình đào tạo ngành Giáo dục Mầm non.
  • Đối với các trường mầm non và giáo viên vùng cao: Tích cực linh hoạt hóa chương trình giáo dục mầm non theo hướng tích hợp; tận dụng tối đa môi trường đồ dùng bản địa; kiên trì, tôn trọng đặc điểm tâm lí của trẻ; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn phụ huynh phối hợp rèn luyện tiếng Việt tại gia đình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm của luận án mới chỉ tập trung tại 5 huyện vùng cao của một tỉnh (Lào Cai) với đại diện chính là dân tộc H'mông (chủ yếu là ngành H'mông Hoa, H'mông Đen).
    • Luận án giới hạn nghiên cứu trên đối tượng trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi), chưa mở rộng khảo sát các độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo bé (3 - 4 tuổi, 4 - 5 tuổi).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu áp dụng hệ thống biện pháp hình thành KNGT tiếng Việt cho trẻ mầm non ở các nhóm tuổi nhỏ hơn (3 - 4 tuổi, 4 - 5 tuổi) nhằm tạo sự liên tục trong quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai.
    • Vận dụng và điều chỉnh khung lí thuyết, biện pháp sư phạm cho trẻ em thuộc các dân tộc thiểu số khác ở khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên (như Dao, Tày, Thái, Jrai, Ba Na).

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học và Giáo dục mầm non: Tham khảo khung lí thuyết về kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ thứ hai, phương pháp luận nghiên cứu kết hợp khảo sát thực trạng diện rộng với thực nghiệm sư phạm đối chứng hai vòng xử lí bằng SPSS.
  • Đối với giảng viên các khoa Sư phạm Mầm non: Sử dụng các kết quả so sánh đối chiếu ngữ âm, ngữ pháp H'mông - Việt và hệ thống thang tiêu chí đánh giá KNGT tiếng Việt làm tài liệu giảng dạy học phần Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non.
  • Đối với cán bộ quản lí giáo dục và giáo viên mầm non tại các tỉnh miền núi, vùng DTTS: Trực tiếp vận dụng hệ thống bài tập, trò chơi ngôn ngữ, kịch bản tổ chức hoạt động góc và phương thức giao tiếp tích hợp theo chủ đề để nâng cao chất lượng chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi vào lớp 1.

Câu hỏi thường gặp

1. Cấu trúc kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông trong luận án bao gồm những kĩ năng thành phần nào?

Luận án xác định cấu trúc KNGT tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H'mông gồm 4 kĩ năng thành phần:

  • KN1: Kĩ năng nghe hiểu lời nói tiếng Việt.
  • KN2: Kĩ năng độc thoại bằng tiếng Việt (kể chuyện, diễn đạt ý nghĩ cá nhân).
  • KN3: Kĩ năng đàm thoại bằng tiếng Việt (hỏi, trả lời, đối thoại tương tác).
  • KN4: Kĩ năng phối hợp ngôn ngữ tiếng Việt với các phương tiện phi ngôn ngữ (ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ).

2. Quy mô mẫu khảo sát thực trạng và địa bàn thực nghiệm của đề tài được thực hiện ở đâu?

  • Khảo sát thực trạng: Thực hiện trên 285 giáo viên mầm non và 337 trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dân tộc H'mông tại 5 huyện vùng cao tỉnh Lào Cai: Sa Pa, Bát Xát, Mường Khương, Si Ma Cai, Bắc Hà.
  • Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành trên 8 giáo viên và 102 trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H'mông tại 2 trường mầm non thuộc huyện Si Ma Cai và Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

3. Ngôn ngữ tiếng H'mông có những đặc điểm ngữ âm và thanh điệu cơ bản nào khác biệt so với tiếng Việt?

Theo phân tích của luận án:

  • Tiếng H'mông có 59 phụ âm, 11 nguyên âm và 26 vần (toàn bộ là vần mở, không có vần khép như tiếng Việt); có tiền âm mũi (ư, m, h) và tổ hợp phụ âm (bl, pl, fl).
  • Về thanh điệu, tiếng H'mông có 8 thanh điệu và dùng 7 chữ cái cuối âm tiết (k, l, s, r, v, x, z) để ghi dấu giọng, không dùng kí hiệu dấu như tiếng Việt; tiếng H'mông không có thanh ngã và thanh nặng.

4. Luận án đề xuất hệ thống biện pháp dựa trên những nguyên tắc sư phạm nào?

Hệ thống biện pháp được xây dựng dựa trên 4 nguyên tắc:

  1. Đảm bảo thực hiện mục tiêu, chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi.
  2. Đảm bảo tính phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và bản sắc văn hóa của trẻ H’mông.
  3. Đảm bảo tính phát triển theo vùng phát triển gần nhất.
  4. Đảm bảo tạo ra nhiều cơ hội thực hành giao tiếp tiếng Việt thường xuyên, đa dạng cho trẻ.

5. Thực nghiệm sư phạm đã chứng minh hiệu quả của các biện pháp như thế nào?

Qua 2 đợt thực nghiệm đối chứng, kết quả xử lí thống kê trên phần mềm SPSS cho thấy: Nhóm thực nghiệm có sự tăng trưởng vượt bậc ở Mức 1 (Thành thục) và Mức 2 (Đã có kĩ năng) ở cả 4 kĩ năng thành phần so với nhóm đối chứng; tỉ lệ trẻ ở Mức 4 (Chưa có kĩ năng) giảm xuống mức tối thiểu; các hệ số tương quan khẳng định tính vững chắc và hiệu quả thực tế của hệ thống biện pháp đã đề xuất.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Giàng Thị Gấm đã giải quyết một cách toàn diện cả về phương diện lí luận và thực tiễn vấn đề hình thành kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc H’mông qua các hoạt động giáo dục tích hợp theo chủ đề. Bằng việc phối hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành tâm lí học, giáo dục học và ngôn ngữ học trên địa bàn vùng cao tỉnh Lào Cai, công trình đã xác lập thang đánh giá 4 kĩ năng thành phần và kiểm chứng thành công bộ giải pháp sư phạm chuyên biệt. Kết quả nghiên cứu là tài liệu khoa học có giá trị ứng dụng trực tiếp, góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai cho trẻ em mầm non vùng đồng bào dân tộc thiểu số trước khi bước vào lớp 1.