Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG TRƯỜNG MẦM NON ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trong đời sống xã hội, GD&ĐT là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại. Với xu thế phát triển tri thức ngày nay, GD&ĐT được xem là chính sách quan trọng hàng đầu để phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, từ trước đến nay sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ luôn có sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội.
Trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước với quan điểm, giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đảng và Nhà nước có nhiều Nghị quyết về phát triển giáo dục mầm non: “là phát triển bậc mầm non phù hợp với điều kiện và yêu cầu của từng nơi, đảm bảo hầu hết trẻ 5 tuổi được học chương trình mẫu giáo lớn, chuẩn bị vào lớp 1”, “ban hành chuẩn quốc gia về trường học”, “Đối với GDMN giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ; hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1”.[9] Sự quan tâm của Đảng, Chính phủ Việt Nam đối với giáo dục tiếp tục được khẳng định qua các kỳ Đại hội Đảng lần thứ X, XI, XIII và Nghị quyết về đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục nước nhà. Điều đó đã được được cụ thể hóa trong chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020. Đối với GDMN thì mục tiêu cụ thể là: “Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trẻ trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại cơ sở GDMN; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trong các cơ sở GDMN giảm xuống dưới 10%”.[12] Để hoàn thành mục tiêu này cần rất nhiều điều kiện, một trong các điều kiện mang tính khái quát là xây dựng các trường MN ĐCQG. Bộ GD&ĐT ngày 26 tháng 12 năm 2001 của bộ trưởng BGD&ĐT về việc ban hành Quy chế công nhận trường MN ĐCQG giai đoạn từ năm 2002-2005.
Đến năm 2014, BGD&ĐT đã ban 7 hành Thông tư số 02/2014/TT-BGD&ĐT ngày 08 tháng 2 năm 2014, Ban hành Quy chế công nhận trường MN ĐCQG thay thế cho Quyết định số 36/2001/QĐ- BGDĐT ngày 16/7/2008; và tiếp tục ban hành Thông tư 19/TT-GDĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018 Ban hành Quy định về kiểm định chất lượng dục và ĐCQG với trường mầm non. Theo quy định chung, trường đạt chuẩn quốc gia phải đạt 5 tiêu chuẩn, đó là: Tổ chức và quản lý nhà trường; CBQL, GV, NV; CSVC, TTBDH; Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; Hoạt động và kết quả của nuôi dưỡng, CSGD trẻ. Từ 5 tiêu chuẩn trên các địa phương, các cấp quản lý giáo dục trong phạm vi cả nước đã khẩn trương thực hiện và thu được kết quả nhất định ở các trường mầm non trong những năm gần đây. Đã có các luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục nghiên cứu vấn đề xây dựng trường MN ĐCQG như sau: - Thực trạng và giải pháp tăng cường cơ sở vật chất xây dựng trường MN ĐCQG ở thành phố Hải Phòng của tác giả Phạm Thị Loan, năm 2005.
- Biện pháp xây dựng trường chuẩn quốc gia trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng của tác giả Phạm Hồ Quỳnh Trang, năm 2012 - Biện pháp quản lý xây dựng trường MN ĐCQG của PGD&ĐT huyện Cam Lâm, tỉnh Khành Hòa” của tác giả Đỗ Hữu Huỳnh, trường Đại học Sư Phạm- Đại học Huế, năm 2014. - Biện pháp xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum của tác giả Lê Thị Bích Thảo, năm 2015. Nhìn chung, nghiên cứu công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng của nhà trường nói chung và trường mầm non nói riêng theo trường chuẩn quốc gia đã được các cấp QLGD, các nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, các luận văn hiện nay chỉ đề cập đến vấn đề cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn xây dựng trường MN ĐCQG nhưng chưa bàn sâu đến quản lý xây dựng trường MN ĐCQG, đặc biệt ở địa bàn nghiên cứu, chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này.
Qua tìm hiểu, việc nghiên cứu về công tác quản lý xây dựng trường MN ĐCQG tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này. Vì vậy đề tài: “Quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 8 trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” có ý nghĩa câp thiết. Các khái niệm cơ bản liên quan đề tài 1. Quản lý; Quản lý giáo dục; Quản lý nhà trường 1.
Quản lý Trong quản lý, cả hai quá trình “quản” và “lý” đều quan trọng. Nếu ta chỉ chú ý đến “quản”, nghĩa là chỉ lo đến sự sắp xếp giữ gìn thì tổ chức dễ bị trì trệ, kém phát triển, tức là sẽ dẫn tới tụt hậu; còn nếu chỉ chú ý đến quá trình “lý” tức là chỉ lo coi trọng sắp xếp, đổi mới thì tổ chức sẽ kém ổn định và sự phát triển không bền vững. Vì vậy, nhà quản lý phải kết hợp nhuần nhuyễn cả hai quá trình trên để đưa hệ thống vào thế cân bằng động, tức là phát triển trong sự bền vững. Khái niệm quản lý đã được nhiều tác giả đề cập với những cách tiếp cận khác nhau như sau: - Tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” [32, tr.
- Tác giả Đặng Bá Lãm cho rằng: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [27, tr. - Theo tác giả - Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. [11, tr9] - Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”.[21, tr15] - Quản lý theo từ điển Tiếng Việt thông dụng ( NXB giáo dục, 1989) là: “ Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” .9] 9 - Theo Harold Koontz: “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của cả nhóm”.33] - Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trương cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [17].
Hiểu khái quát quản lý là quá trình đạt tới mục tiêu của tổ chức bằng cách vận hành các chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra công việc của các thành viên của đơn vị và sử dụng các nguồn lực phù lực phù hợp để đạt được mục được mục đích đề ra. Từ đó, có thể rút ra: Quản lý chính là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội. Quá trình đó bao gồm các hoạt động có tính giáo dục của bộ máy Nhà nước, của các tổ chức xã hội, của hệ thống giáo dục quốc dân, của gia đình.
Quản lý giáo dục theo nghĩa hẹp bao gồm: “quản lý hệ thống giáo dục” là quản lý các hoạt động giáo dục đào tạo diễn ra trong các đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh, quốc gia) và “quản lý nhà trường” là những tác động có mục đích, có hệ thộng, có khoa học, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý là giáo dục dạy – học và giáo dục diễn ra ở các cơ sở giáo dục. Nếu xem quản lý là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi hoạt động xã hội, thì quản lý giáo dục cùng là một thuộc tính tất yếu của mọi hoạt động 10 giáo dục có mục đích. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục, song thường người ta đưa ra quan niệm quản lý giáo dục theo hai cấp độ: cấp vĩ mô và vi mô. * Quản lý cấp vĩ mô: Quản lý vĩ mô tương ứng với khái niệm về một nền giáo dục (hệ thống giáo dục) và quản lý vĩ mô tương ứng với khái niệm về quản lý một nhà trường.
Ở cấp độ vĩ mô, quản lý giáo dục được hiểu là một hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia. Như vậy, quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm làm cho toàn bộ hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra. * Ở cấp độ vi mô: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hoạt động tổ chức giáo dục của nhà trường, điều khiển các thành tố trong hệ thống phối hợp hoạt động theo chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt mục đích, mục tiêu đã xác định và hiệu quả cao nhất. Tiếp cận theo góc độ điều khiển học, có thể hiểu quá trình quản lý giáo dục là hoạt động tổ chức và điều khiển quá trình giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích, mục tiêu giáo dục của nhà trường.
Quá trình quản lý giáo dục được hiểu như một quá trình vận động của các thành tố có mối liên hệ tương tác lẫn nhau trong hệ thống tổ chức của nhà trường.