Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Vấn đề quản lý phát triển đội ngũ GV ở các trường mầm non, mẫu giáo (MN – MG) đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện theo nhiều cách khác nhau. Trong những năm gần đây trên thế giới xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ GV dưới góc độ nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực.
Trong đó đặc biệt chú trọng tới chất lượng giáo dục và chất lượng đội ngũ GV. Đề cao khía cạnh phát triển bền vững, thích ứng nhanh của từng GV và cả đội ngũ trước tiến trình phát triển Kinh tế - Xã hội cũng như hội nhập quốc tế. Chình vì vậy mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV là vấn đề cơ bản trong phát triển GD. Việc tạo mọi điều kiện để mọi người có cơ hội học tập, học tập thuờng xuyên, học tập suốt đời để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phuơng pháp giảng dạy phù họp với sự phát triển kinh tế - xã hội là phuơng châm hành động của các cấp quản lý GD.
Cụ thể: - Công trình nghiên cứu của OECD (Tổ chức Hợp tác phát triển châu Âu) đã đề cập đến chất lượng GV gồm 5 mặt: + Kiến thức phong phú về nội dung chương trình và nội dung bộ môn được giao giảng dạy; + Kỹ năng sư phạm kể cả việc tạo được “kho kiến thức” về phương pháp dạy học, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; + Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; + Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; + Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học. - Năm 1980, nhà xã hội học người Mỹ, Christian Batal cho rằng quản lý nguồn nhân lực phải có ba nhiệm vụ chính là: + Phát triển nguồn nhân lực gồm: giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ; + Sử dụng nguồn nhân lực gồm: tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hóa sức lao động; + Môi trường nguồn nhân lực gồm: mở rộng chủng loại làm việc, mở rộng quy mô làm việc, phát triển tổ chức. - Năm 1998, Hội nghị UNESCO tổ chức tại NêPan về tổ chức quản lý nhà truờng đã khẳng định: “Xây dựng, bồi duỡng đội ngũ GV là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục”. - Từ năm 1998, tại Thái Lan, việc bồi dưỡng GV được tiến hành ở các trung tâm 6 học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội.
- Ớ Philippin, công tác nâng cao chất lượng đội ngũ GV không tiến hành tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng thành từng khóa học trong thời gian học sinh nghỉ hè. + Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá giáo dục; + Hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; + Hè thứ ba gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục; + Hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kỹ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy, viết sách giáo khoa, viết sách tham khảo. - Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm. Tùy theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định.
Hầu hết các nước trên thế giới đều có những chiến lược riêng để từng bước đưa GD nước họ ngày càng cao đồng nghĩa với việc nền kinh tế nước họ ngày càng phát triển. Ở Việt Nam Ở Việt Nam vấn đề phát triển đội ngũ GV đã được đề cập từ lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đương thời Người rất quan tâm đến chất lượng GD, đặc biệt là đội ngũ thầy, cô giáo. Người đã chỉ rõ: “Vấn đề then chốt, quyết định chất lượng giáo dục là phải phát triển được đội ngũ đông đảo những người làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo”. Người luôn đánh giá cao vai trò của cô giáo, thầy giáo trong xã hội mới, coi họ là lớp người vẻ vang của đất nước.
Vì nếu không có những người thầy giáo, người cô giáo hết lòng dạy giỗ thế hệ trẻ ngày hôm nay thì không thể xây dựng được một xã hội tốt đẹp trong tương lai, như mọi người mong muốn. Trong toàn bộ di sản tư tưởng GD của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề cơ bản nhất, nổi bật nhất là vấn đề phát triển và hoàn thiện con người với những tinh hoa, những hiểu biết, năng lực và đạo đức là yếu tố then chốt, có tính quyết định đối với thành công của cách mạng, tiến bộ của xã hội, tiền đồ của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Người từng nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” mà đội ngũ GV đóng vai trò then chốt”.[37] Ở nước ta ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công và qua các cuộc cải cách giáo dục năm 1950, 1956, 1979 và trong những năm “Đổi mới”, nhiều công trình nghiên cứu vấn đề xây dựng và phát triển GV như: 7 - Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đề cập đến tính chất nghề nghiệp của người giáo viên trong bài “Nghề và nghiệp của người giáo viên”. Tác giả đã nhấn mạnh vấn đề “Lý tưởng sư phạm”, cái tạo nên động cơ cho việc thực hiện nghề dạy học của đội ngũ giáo viên.[19] - Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa: Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên, năm 2007.
- Đặng Thị Thanh Huyền với Chuyên đề: Phát triển năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên tại các trường mầm non – tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên về Nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non năm học 2019 – 2020. [42] - Về luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục đã có một số luận văn về xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên mầm non nói riêng như: Các luận văn thạc sĩ: "Các giải pháp xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2006-2010” của tác giả Phạm Đình Ly. "Giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học quận Thanh Khê Thành phố Đà Nẳng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục" của tác giả Hà Hội [35]. "Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Liên Chiểu Thành phố Đà Nẳng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Phạm Thị Thúy Xuân[57] đã nêu lên thực trạng cũng như các giải pháp về công tác xây dựng, phát triển đội ngũ GV, cán bộ quản lý GD của các cấp học ở tỉnh Quảng Nam và Thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay.
“Biện pháp phát triển đội giáo viên mầm non huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam theo chuẩn nghề nghiệp” của tác giả Võ Thị Lệ Huyền[41], Phòng GDĐT huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam. Biện pháp “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Minh Long tỉnh Quảng Ngãi trong bối cảnh hiện nay" của tác giả Phạm Thị Thu Hà. Các luận văn này đã đưa ra những biện pháp xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên ở những vùng miền khác nhau. Sự nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non theo Chuẩn nghề nghiệp còn ít được đề cập đến.
Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý Khái niệm quản lý là một khái niệm có ý nghĩa rất tổng quát. Từ khi xã hội loài người hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý đã được quan tâm. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn.
Xét ở góc độ hoạt động thì quản lý là điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi con người để đạt đến mục đích, phù hợp với quy luật khách quan. Dưới góc độ khoa học, quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung. 8 Trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, khái niệm quản lý đã được các nhà lý luận đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau: Harold Koontz trong cuốn "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" cho rằng: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nổ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm". Marry Follet cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác”.
Theo Các-Mác: “Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp”. Ông viết: “Một nghệ sỹ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”. [17] Theo Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ đưa hệ vào thế phát triển”. Trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực).
[1] Đặng Vũ Hoạt - Hà Thế Ngữ: "Quản lý là một quá trình có định hướng, có mục tiêu; Quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mỗi hệ thống và người quản lý mong muốn".