Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ngoài nước Giáo dục và đào tạo đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống chính trị, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nước. Giáo dục tồn tại mãi mãi cùng với xã hội loài người.
Chính vì vậy giáo dục được xem như là chức năng tất yếu và vĩnh hằng của xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội về mọi mặt. Hơn 2500 trước, ở Trung Quốc, Khổng Tử (551-479 TCN) được xem là người đặt nền móng cho việc xây dựng nội dung và phương pháp dạy học tương đối hệ thống, có nhiều tiến bộ, vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Ông cho rằng: giáo dục cần thiết cho mọi đối tượng, không phân biệt các hạng người trong xã hội; Đối với Nhà nước, những người làm công tác quản lý phải chăm lo sự nghiệp giáo dục, phải coi nó là một trong những điều kiện đem lại nền thịnh trị cho đất nước [22]. Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển ngày càng nhanh.
Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Trong bối cảnh đó, giáo dục đã trở thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Các nước trên thế giới đều coi giáo dục là nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển nhanh và bền vững nên tất cả đều tập trung đầu tư cho giáo dục. Trong đó, việc phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong giáo dục.
Ở Hoa Kì, không có trường đại học sư phạm mà khoa sư phạm hoặc khoa có chương trình đào tạo giáo viên đều trực thuộc một trường đại học đa ngành. Muốn trở thành giáo viên thì người học cần phải có một bằng cử nhân nào đó, sau đó phải thi đỗ vào chương trình đào tạo giáo viên, thời gian đào tạo giáo viên tiểu học là hai năm. Nếu giáo viên muốn dạy ở bậc trung học thì phải học thêm một số môn chuyên ngành phù hợp với môn giảng dạy. Tại Nhật Bản, sau khi hoàn thành chương trình ở trường đại học sẽ được cấp chứng chỉ hành nghề giáo viên (chứng chỉ có thời hạn 10 năm), sau 10 năm, giáo viên phải qua chương trình bồi dưỡng 30 giờ để được cấp lại chứng chỉ hành nghề, mục đích là nhằm tạo động lực cho giáo viên cập nhật kiến thức và kỹ năng mới của nghề.
7 Ở Philippin, công tác nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên không tiến hành tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng thành từng khóa học trong thời gian học sinh nghỉ hè. Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá giáo dục; hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; hè thứ ba gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục và hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kỹ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy, viết sách giáo khoa, viết sách tham khảo. Các nghiên cứu trong nước Trong lịch sử nước ta, "tôn sư trọng đạo" là truyền thống quý báu của dân tộc, nhà giáo bao giờ cũng được nhân dân yêu mến, kính trọng và ông cha ta từng dạy “không thầy đố mày làm nên”. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “Dốt” là một trong ba thứ giặc cực kỳ nguy hiểm của dân tộc cần phải tiêu trừ ngay.
Dốt là một thứ giặc vô hình cản trở cách mạng hết sức tai hại. Bởi vì “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “dốt thì dại, dại thì hèn”. Theo Hồ Chí Minh: “một chế độ mới ra đời, điều cần thiết đầu tiên là nhanh chóng xóa bỏ nền giáo dục nô lệ, Thực dân Pháp muốn làm cho dân ta ngu để trị” Bác Hồ đã nhận định: “Có thầy giỏi thì rồi sẽ có phương pháp hay, do đó, sẽ có trò giỏi, còn thầy đã kém thì khó lấy gì bù đắp nổi”. Và Người đã dạy rằng: “Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức.
Ví như bảo học trò phải dậy sớm mà giáo viên thì trưa mới dậy. Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi con người là vốn quý nhất, Người nhấn mạnh: “Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể. Có vốn mới làm ra lãi.
Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công tức là có lãi, không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”. Quan điểm coi trọng yếu tố con người của Hồ Chí Minh hết sức rõ ràng khi vào những năm đầu tiên sau cách mạng tháng 8 (năm 1947) nhưng Người đã khẳng định: “Các cơ quan cần phải rất chú ý đến việc huấn luyện cán bộ. Phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó. Những người lãnh đạo cần phải tham gia việc dạy.
Không nên bủn xỉn về các khoản chi tiêu trong huấn luyện”.[22] Trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 xác định giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là hết sức cần thiết và phù hợp với yêu cầu thực tiễn hiện nay. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài. Trong những năm gần đây, nhiều tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục để làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ chuyên ngành QLGD, trong đó có vấn đề quản lý phát triển đội ngũ giáo viên theo bậc học và ngành học, ở nhiều địa phương khác nhau. Tác giả Nguyễn Công Cự (2017) với “Phát triển 8 đội ngũ giáo viên trung học cơ sở huyện Phú Thiện tỉnh Gia Lai đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay” , tác giả Diệp Quang Nhàn (2016) với “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học trên địa bàn thành phố Trà Vinh”, tác giả Võ Thị Minh Phương (2018) với “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông”, tác giả Nguyễn Thị Thương Thương với “Phát triển đội ngũ giáo viên các trường mầm non huyện Chư Prông tỉnh Gia Lai đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay”, tác giả Phạm Thị Thúy Hà với “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Minh Long tỉnh Quảng Ngãi trong bối cảnh hiện nay”, tác giả nguyễn Văn Nhị với “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Nam Trà My tỉnh Quảng Nam đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí chuyên ngành…những công trình này thật sự đem lại hiệu quả thiết thực về mặt lý luận cũng như thực tiễn đối với công tác phát triển nguồn nhân lực, là tiền đề để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và phát triển đội ngũ giáo viên. Tuy nhiên, mỗi tác giả nghiên cứu ở một khía cạnh, thời điểm khác nhau, mà nhất là các biện pháp được đưa ra phù hợp với từng địa phương có điều kiện KT-XH, thực trạng đội ngũ hoàn toàn khác nhau. Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Vì vậy, việc nghiên cứu nội dung trên có ý nghĩa thiết thực về lý luận và phù hợp với thực tiễn hiện nay, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học cấp THCS trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
Các khái niệm chính của đề tài 1. Khái niệm quản lý Theo từ điển tiếng Việt 1999, “quản lý” là tổ chức điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan. [34] Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý.
Càng về sau các quan niệm về quản lý lại càng phong phú. Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau: Theo Frederick Winslow Taylor (1856-1915): "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm"; Henri Fayol (1841-1925): "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”; Peter Ferdinand Drucker (1909-2005): "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích".[1] 9 Theo Đặng Quốc Bảo, “Quản lý = Quản + Lý” có nghĩa là: Hành động “Quản” trong “Quản lý” là hành động biết tạo ra nội lực bền vững cho mình và cho cộng đồng.
Hành động “Lý” trong “Quản lý” là hành động thúc đẩy “Nội lực” gắn với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển bản thân mình và cộng đồng thích ứng với các hoàn cảnh khác nhau theo động thái của không gian và thời gian. Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức nhằm đạt được mục đích nhất định. [16] Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường. [ 29] Từ điển giáo dục học định nghĩa quản lý là hoạt động tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý, đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.