Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ngoài nước Tổ chức Economist Intelligence Unit mới đây đã nghiên cứu và công bố danh sách những nước có chất lượng giáo dục hàng đầu thế giới, dựa trên hai tiêu chí cơ bản là chỉ số nhận thức và thành tựu giáo dục. Theo những số liệu vừa được công bố, bốn quốc gia thuộc khu vực châu Á là Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Hông không đứng đầu thế giới về hệ thống giáo dục.
Cụ thể: Ở Nhật Bản, giáo dục mầm non Nhật bản có 2 loại hình mẫu giáo và nhà trẻ. Mẫu giáo do Bộ Giáo dục quản lý, thời hạn giữ trẻ giới hạn trong phạm vi 4 giờ và chỉ nhận trẻ 3-5 tuổi, tất cả phụ huyên phải trả mức học phí như nhau. Trong khi đó, nhà trẻ do Bộ Lao động- Y tế quản lý, thời gian giữ trẻ kéo dài hơn so với tại trường mẫu giáo và trẻ được gửi và nhà trẻ là từ sơ sinh đến 5 tuổi. Tiến học phí được tính theo mức thu nhập của từng phu huynh.
Múc đích của nhà trẻ là để phu huynh đi làm không có điều kiện chăm sóc con cái gửi con mình cho nhà trẻ chăm sóc, nuôi dạy. Vì vậy, việc chăm sóc và dạy dỗ trẻ là điều bắt buộc theo quy định. Nhật bản xác định nhà trẻ là một hệ thống hỗ trợ mang tính xã hội đối với trẻ mà cha mẹ chúng vì phải đi làm nên không thể chăm sóc, dạy dỗ. Do đó nhà trẻ ở Nhật Bản được ngành Giáo dục đặc biệt coi trọng và đầu tư chu đáo.
Ở Hàn Quốc, trẻ mầm non nhận được sự chăm sóc rất lớn của toàn xã hội. Nhà nước có đến sáu Bộ cùng chăm lo cho giáo dục mầm non. Trong đó Bộ Gia đình và Bình đẳng giới, Bộ Giáo dục và Nguồn nhân lực nắm vai trò chủ chốt. Bên cạnh đó, Bộ Y tế, Bộ Hành chính nhà nước và Nội vụ, Bộ Lao động, Bộ Nông nghiệp và rừng thì liên đới về việc lập chính sách và luật pháp chăm sóc trẻ.
Cả nước có tới hai viện nghiên cứu chuyên về giáo dục mầm non do nhà nước tài trợ. Chính sách với trẻ mầm non liên tục được cải tiến, đặc biệt từ năm 1997, khi kế hoạch “ Đổi mới hệ thống giáo dục mầm non” ra đời. Kế hoạch này được ghi nhận là có sự tham gia bàn thảo góp ý một cách “dày đặc” của công chúng. Năm 2005, Hàn Quốc có khoảng 4 triệu trẻ dưới 6 tuổi.
Đầu tư cho giáo dục mầm non chiếm 0,16% GDP, trong đó nhà nước đóng góp 0,05%, và tư nhân đóng góp 0,11%. Chi phí cho mầm non chiếm 2% tổng chi cho toàn hệ thống giáo dục Ở Singapore, từ lâu đã được biết đến là một quốc gia có hệ thống giáo dục phát triển, với nhiều hệ đào tạo từ mầm non đến đại học, từ hệ thống trường công lập, tư thục cho đến các trường quốc tế, đây là điều kiện thuận lợi giúp học sinh có nhiều lựa chọn cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh bản thân. Hệ thống giáo dục tại Singapore là một hệ thống đã được thử nghiệm và kiểm định. Nó hướng đến việc nuôi dưỡng và 9 đào tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát triển hết tiềm năng của bản thân.
Giáo dục ở bậc mầm non giúp trẻ em ở nền tảng phát triển về ngôn ngữ và các kỹ năng đọc, các khái niệm về khoa học và số học, các kỹ năng về xã hội và sự thưởng thức âm nhạc, các hoạt động và cách thức vui chơi. Tác giả người Mỹ Mary-Louise Kearney trong cuốn sách “ Higther education staff for development for the 21st century”- phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên ở đại học cho thế kỷ XXI, cho rằng, đây là vấn đề rất cần thiết cho nguồn nhân lực giáo dục đại học, nhằm mở rộng và phát triển kỹ năng chuyên nghiệp của họ, đáp ứng các nhu cầu phát sinh trong quá trình làm việc. Phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên ở đại học bao gồm các vấn đề như: phong cách làm việc, kiến thức, kỹ năng chuyên môn về sử dụng công nghệ thông tin và chuyền thông trong giáo dục, kỹ năng giao tiếp. Vì vây, các nhà trường đại học cần có kế hoạch tổng thể và sự đầu tư thích hợp cho phát triển nguồn nhân lực trong quá trình phát triển nhà trường, với một quy trình phát triển và quản lý sự phát triển nhân sự của nhà trường.Diaz (chủ biên), Giám đốc Phòng Giáo dục Đại học, UNESCO, trong cuốn sách “ Higther education staff for development: Directions for the 21st century” - phát triển đội ngũ cán bộ giáo dục đại học: định hướng cho thế kỷ 21 đã bàn về quản lý phát triển cán bộ giáo dục đại học và quy hoạch nhân tài.
Múc đích chính của một trường đại học là tạo ra và phổ biến kiến thức. Đó là quá trình phát triển quản lý với các điều khoản quản lý và các bước trong quá trình lập kế hoạch nguồn nhân lực, nhằm thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Ở Việt nam, chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đương thời Người rất quan tâm đến chất lượng giáo dục, đặc biệt là đội ngũ, thầy, cô giáo. Người đã chỉ rõ: “ Vấn đề chen chốt, quyết định chất lượng giáo dục là phải phát triển được đội ngũ đông đảo những người làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo” Người luôn đánh giá cao vai trò của cô giáo, thầy giáo trong xã hội mới, coi họ là lớp người vẻ vang của đất nước.
Vì nếu không có những người thầy giáo, người cô giáo hết lòng dạy dỗ con em nhân dân ngày hôm nay thì không thể xây dựng được một xã hội tốt đẹp trong tương lai, như mọi người mong muốn. Trong toàn bộ dỉ sản giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề cơ bản nhất, nổi bật nhất là vấn đề phát triển và hoàn thiện con người với những tinh hoa, những hiểu biết, năng lực và đạo đức là yếu tố chen chốt, có tính quyết định đối với thành công của cách mạng, tiến bộ của xã hội, tiền đồ của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Người từng nói “ muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” và đội ngũ giáo viên đóng vai trò chen chốt. Ở Việt Nam ngay sau khi cách mạng tháng tám thành công và qua cuộc cải cách giáo dục 1950, 1956, 1979 và trong những năm “Đổi mới” nhiều công trình nghiên 10 cứu vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên được các nhà nghiên cứu quan tâm trong nhiều năm qua đó là các tác giả Nguyễn Ngọc Hợi, Phạm Minh Hùng, Thái văn Thành.
Khi nghiên cứu các tác giả đã nêu lên nguyên tác chung của việc nâng cao chất lượng của giáo viên như sau: + Xác định đầy đủ nội dung hoạt động chuyên môn của giá viên + Xây dựng hoàn thiện quy chế đánh giá, xếp loại chuyên môn của giá viên; + Tổ chức đánh giá xếp loại chuyên môn của giá viên; + Sắp xếp điều chuyển những giáo viên không đáp ứng yêu cầu về chuyên môn. Từ các nguyên tác chung, các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của quản lý chuyên môn việc thực hiên mục tiêu giáo dục. Bởi do tính chất nghề nghiệp mà hoạt động chuyên môn của giáo viên có nội dung rất phong phú. Ngoài giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm lớp, hoạt động chuyên môn còn bao gồm cả các công việc như tự bồi dưỡng và bồi dưỡng, giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt chuyên môn, nghiên cứu khoa học.
hay nói cách khác, quản lý chuyên môn của giáo viên thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của người thầy. Qua các công trình nghiên cứu của họ, chúng ta thấy từ lâu các nhà nghiên cứu đã có một điểm chung đó là: Khẳng định vai trò quan trọng của các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên trong việc nâng cao chất lượng dạy học ở từng lớp học, từng cấp học và từng bậc học. Đây cũng là một trong những tư tưởng chiến lược về phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chương trình giáo dục mầm non thì một số dự án, công trình nghiên cứu khoa học lớn liên quan đến đội ngũ giáo viên ở tất cả các bậc học, cấp học đã được thực hiện.
Ngoài ra, trong hoạt động hàng năm của Sở GD&ĐT ít nhiều đều có những nghiên cứu khoa học hay thực hiện những giải pháp nhất định để phát triển đội ngũ giáo viên. Trải qua các thời kỳ phát triển của đất nước, phát triển đội ngũ giáo viên vẫn luôn được coi trọng, là mối quan tâm của nhiều bậc lão thành, nhà khoa học và là đề tài nghiên cứu của nhiều tác giả. Nhiều tác giả tập trung nghiên cứu về vấn đề xây dựng, quy hoạch, phát triển đội ngũ giáo viên nhằm tìm ra những giải pháp, biện pháp thiết thực để làm tốt công tác phát triển đội ngũ giáo viên. Đã có một số công trình khoa học được đăng trên các tạp chí khoa học giáo dục và một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này như: Tác giả Nguyễn Hữu Long (Trường ĐHSPHN) phát triển nguồn nhân lực, 2005- NXB- ĐHSP.
Tác giả Phạm Minh Hạc (2001) Về phát triển toàn diện con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá; NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Luận văn thạc sĩ của Tô Đình Huân 2007. Phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung cấp, chuyên nghiệp quân đội các tỉnh phía Bắc. Các nghiên cứu trong nước Từ xa xưa, nhân dân Lào đã rất coi trọng và đánh giá cao vai trò của người thầy 11 giáo, không có thầy giáo thì không có giáo dục.
Để giáo dục phát triển toàn diện rất cần sự quan tâm về mọi mặt của toàn xã hội và cần có sự quan tâm đặc biệt đến phát triển ĐNGV. Để thực hiện chiến lược 2 mặt “Bảo vệ và xây dựng phát triển đất nước” Đảng và Nhà nước CHDCND Lào cũng rất quan tâm đến phát triển giáo dục nói chung và phát triển đội ngũ giáo viên nói riêng. Ông Phu Mi vông vi chit cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục người đầu tiên của nước CHDCND Lào đã viết “ Giáo dục là chìa khóa dẫn đến ánh sáng”; “ Giáo viên là bậc thầy quốc gia”.