Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG XÃ HỘI CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Theo chuyên gia tâm lý Trường Đại học Yale - Tiến sĩ Dorothy G.Singer (2007): Các yếu tố môi trường có những tác động nhất định lên trẻ. Việc trẻ tương tác với người lớn thông qua các trò chơi, cũng như việc chơi với các bạn cùng trang lứa là rất quan trọng trong việc phát triển các KNXH cho trẻ, bố mẹ cũng cần dành nhiều thời gian tiếp xúc, trò chuyện với trẻ càng nhiều càng tốt [43].
Trong Hiến chương Ottawa của WHO (1986) có nêu các “kỹ năng cá nhân” nhằm “hỗ trợ sự phát triển cá nhân và xã hội thông qua cung cấp thông tin, giáo dục sức khỏe và nâng cao kỹ năng sống” [48]. Theo WHO, “kỹ năng sống là các khả năng về thích nghi và hành vi tích cực giúp cho các cá nhân có thể đáp ứng hiệu quả các nhu cầu và thử thách trong cuộc sống hằng ngày” [48]. Theo UNICEF, giáo dục dựa trên kỹ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ, hành vi. Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào) thành hành động (làm gì và làm như thế nào) [41].
Theo tổ chức UNESCO, kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục đó: Học để biết - Học để làm - Học để là chính mình - Học để cùng chung sống [47]. Những nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng để chúng tôi xác định: kỹ năng sống là một yếu tố trong cấu trúc KNXH, có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hình thành KNXH. Từ đó kế thừa và xây dựng những đánh giá về KNXH ở trẻ em, đặc biệt là việc định hướng GD KNXH cho trẻ mẫu giáo. Ở Việt Nam Ở Việt Nam cũng đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu, đề cập tới KNXH và GD KNXH cho học sinh nói chung và trẻ mầm non nói riêng.
Nguyễn Thị Cẩm Bích và nhóm nghiên cứu “Báo cáo cơ sở lý luận về giáo dục tình cảm xã hội trong giáo dục phát triển toàn diện cho trẻ mầm non” cho rằng: “KNXH là khái niệm chỉ những loại kỹ năng hướng tới và được áp dụng trực tiếp (không gián tiếp qua cái gì) vào những quan hệ, hoàn cảnh, quá trình và đời sống xã hội công cộng để giúp cá nhân nhận thức, ứng xử, giao tiếp và thích ứng xã hội thành công, hiệu quả ở những mức độ nhất định. Trong tài liệu “Giáo dục phát triển tình cảm và KNXH (dành cho giáo viên)” (2013) của Bộ GDĐT có nhấn mạnh: “Phát triển tình cảm, KNXH là tiền đề quan trọng cho việc học và phát triển toàn diện của trẻ. Phát triển tình cảm, KNXH có ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ. Sự phát triển tình cảm và KNXH góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ cũng như quá trình học tập suốt đời.
“Các năng lực tình cảm và KNXH có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả học tập và phát triển của trẻ. Đó là nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhận thức ở trẻ em cũng như khả năng tham gia hiệu quả vào các công việc nhóm hay trách nhiệm của trẻ với xã hội. Khi trẻ có ý thức rõ ràng và tích cực về bản thân mình, trẻ tự chủ và tự tin hơn thì trẻ sẽ biết quan tâm đến người khác trong giao tiếp, biết thông cảm và tôn trọng. Nếu trẻ không đạt được sự phát triển tình cảm và KNXH tối thiểu vào khoảng 6 tuổi trẻ có thể gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống sau này.
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà, trong tài liệu “Đặc điểm phát triển tình cảm, KNXH, mục tiêu và kết quả mong đợi ở trẻ mầm non về tình cảm, KNXH” cho rằng: “Giáo dục phát triển tình cảm và KNXH cho trẻ mầm non đã và đang là một nhiệm vụ không thể thiếu trong công tác GDMN. Thực 10 hiện tốt nhiệm vụ này sẽ giúp trẻ tự tin, sống có trách nhiệm và tham gia tốt hơn vào các hoạt động xã hội. Các KNXH là những cách ứng xử, giải quyết các vấn đề xảy ra trong cuộc sống xã hội hằng ngày. KNXH chịu sự kiểm soát của các chuẩn mực xã hội nhưng chúng lại mang đặc điểm cá nhân.
Những tác động giáo dục từ sớm sẽ mang lại hiệu quả cao và tránh bớt những sai phạm của quá trình tự mò mẫm, giúp cho cá nhân sớm định hình cách sống và đáp ứng tốt hơn với các yêu cầu, chuẩn mực xã hội. Tác giả Lê Thị Luận và nhóm cộng sự nghiên cứu về đề tài “Tình cảm xã hội đối với sự phát triển toàn diện của trẻ mầm non” đã bàn luận: “Giáo dục tình cảm xã hội cho trẻ mầm non là quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục đến trẻ em nhằm giúp trẻ tiếp thu và vận dụng một cách hiệu quả các kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để hiểu và quản lý cảm xúc bản thân, đặt ra và đạt được mục tiêu tích cực, cảm nhận và thể hiện sự đồng cảm với người khác, hình thành và duy trì các mối quan hệ tích cực và đưa ra quyết định có trách nhiệm. Ngoài ra còn có thể kể đến những công trình khác dưới dạng các chuyên đề khoa học, bài tạp chí, bài báo đề cập đến một phương diện nhất định của KNXH. Chẳng hạn, trong Tạp chí giáo dục số đặc biệt tháng 5/2015 “Giáo dục KNXH cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”, tác giả Nguyễn Thị Thu Hạnh quan niệm: “KNXH là các kỹ năng giúp cá nhân nhận thức, ứng xử, giao tiếp và thích ứng thành công trong xã hội” [23]; tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng “KNXH là một dạng hành động tự giác dựa vào ý thức, thể chất và các điều kiện xã hội khác mà cá nhân có.
Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã nghiên cứu và làm rõ khái niệm KNXH và những biểu hiện của KNXH. Theo Chương trình GDMN: “Phát triển KNXH là giáo dục trẻ hành vi và quy tắc ứng xử xã hội trong sinh hoạt ở gia đình, trường lớp mầm non, 11 cộng đồng gần gũi, giáo dục trẻ quan tâm bảo vệ môi trường. Trong những tài liệu được dẫn ra ở trên, các tác giả đã làm rõ khái niệm KNXH, khẳng định GD KNXH là tiền đề quan trọng cho việc học và có ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ, và là một nhiệm vụ không thể thiếu trong công tác GDMN. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu chuyên sâu về quản lý công tác GD KNXH cho trẻ mẫu giáo, nhất là gắn với những trường mầm non trên địa bàn cụ thể với những điều kiện kinh tế - xã hội, với đặc điểm, tình hình giáo dục và nhà trường cụ thể.
Vì vậy, chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài “Quản lý công tác giáo dục KNXH cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non trên địa bàn TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” với hy vọng góp phần thúc đẩy công tác quản lý GD KNXH cho trẻ mẫu giáo các trường mầm non trên địa bàn TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đạt kết quả cao hơn. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Quản lý là nhân tố không thể thiếu trong đời sống và sự phát triển của xã hội. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [12].
Khi bàn về vai trò của quản lý trong xã hội, ý kiến của Paul Hersey và Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” cho rằng: “Quản lý một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để 12 đạt mục tiêu của tổ chức” [24]. Tương tự, tác giả Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Trần Kiểm (1997), trong giáo trình “Quản lý giáo dục và trường học” (dùng cho học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học) quan niệm: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội. Theo quan điểm của tổ chức UNESCO, hệ thống các chức năng quản lý gồm 8 vấn đề sau: xác định nhu cầu - thẩm định và phân tích dữ liệu - xác định mục tiêu kế hoạch hóa (bao gồm cả phân công trách nhiệm, phân phối các nguồn lực, lập chương trình hành động) - triển khai công việc - điều chỉnh - đánh giá - sử dụng liên hệ và tái xác định các vấn đề cho quá trình quản lý tiếp theo [47].
Từ các định nghĩa trên chúng tôi cho rằng: Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất. Quản lý giáo dục Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”: “Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội” [25].