Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong chương trình giáo dục mầm non, việc tổ chức cho trẻ 5 - 6 tuổi khám phá khoa học về môi trường xung quanh nói chung và thế giới động vật nói riêng giữ vai trò hình thành nguồn biểu tượng đa dạng về đặc điểm hình dạng, cấu tạo, vận động, thức ăn và môi trường sống của các loài vật. Thông qua các hoạt động này, trẻ hình thành thái độ thân thiện, biết quan tâm, chăm sóc và bảo vệ động vật cùng môi trường sinh sống của chúng. Lứa tuổi mẫu giáo lấy hoạt động vui chơi làm hoạt động chủ đạo theo phương châm "học mà chơi, chơi mà học". Trong hệ thống các trò chơi mầm non, trò chơi học tập (TCHT) vừa đáp ứng nhu cầu chơi, vừa đáp ứng nhu cầu nhận thức thế giới xung quanh của trẻ. Khi tham gia trò chơi học tập, trẻ chủ động thao tác với đồ vật, trực tiếp trải nghiệm và giải quyết nhiệm vụ nhận thức cùng giáo viên và bạn học, từ đó củng cố biểu tượng và phát triển kỹ năng hành vi.
Tuy nhiên, trong thực tiễn giảng dạy tại các cơ sở giáo dục mầm non, việc thiết kế và tổ chức trò chơi học tập còn bộc lộ nhiều bất cập. Mặc dù chương trình đổi mới đòi hỏi giáo viên phải chủ động sáng tạo các hoạt động và trò chơi phù hợp với từng chủ đề và năng lực nhận thức của trẻ, phần lớn giáo viên vẫn có xu hướng sử dụng lặp lại các trò chơi có sẵn trong tài liệu hướng dẫn, chương trình khung hoặc tuyển tập thơ ca, truyện kể. Việc tự thiết kế các trò chơi học tập chuyên sâu nhằm giáo dục bảo vệ động vật (GDBVĐV) chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến nội dung chơi còn đơn điệu, tính ứng dụng chưa cao và chưa phát huy hết tiềm năng nhận thức của trẻ. Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Bùi Thị Ngoan (Trường Đại học Hoa Lư) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Thực trạng giáo dục bảo vệ động vật cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi học tập ở trường mầm non" dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Thị Tâm.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu thực trạng việc giáo dục bảo vệ động vật cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi học tập ở trường mầm non, từ đó đề xuất quy trình thiết kế và cách sử dụng một số trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục lĩnh vực này. Để đạt được mục đích trên, đề tài xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc giáo dục bảo vệ động vật cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi học tập ở trường mầm non.
- Nghiên cứu thực trạng việc giáo dục bảo vệ động vật cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi học tập tại cơ sở giáo dục mầm non.
- Bước đầu đề xuất cách thiết kế và sử dụng một số trò chơi học tập nhằm giáo dục bảo vệ động vật cho trẻ 5 - 6 tuổi.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng giáo dục bảo vệ động vật cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi học tập ở trường mầm non.
- Phạm vi không gian và khách thể điều tra: Nghiên cứu được triển khai trên 20 giáo viên đã và đang trực tiếp giảng dạy khối mẫu giáo 5 - 6 tuổi cùng 60 trẻ thuộc 2 lớp mẫu giáo 5 tuổi (lớp 5 tuổi A và lớp 5 tuổi B) tại Trường Mầm non Khánh Thịnh, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
- Phạm vi nội dung: Trọng tâm thực hiện trong chủ đề "Thế giới động vật".
- Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra và thu thập số liệu thực tiễn được tiến hành từ tháng 11/2022 đến tháng 5/2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên việc kế thừa các quan điểm tâm lý học và giáo dục học mầm non kinh điển của thế giới và Việt Nam. Về mặt sinh học và nhận thức luận, tác giả xác định động vật thuộc giới Animalia (Metazoa) trong hệ thống phân loại 5 giới, phân chia thành hai nhóm chính là động vật không xương sống và động vật có xương sống. Khái niệm "Giáo dục bảo vệ động vật cho trẻ mầm non" được định nghĩa là quá trình tác động sư phạm có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ những hiểu biết sơ đẳng về động vật, khơi gợi sự quan tâm và hình thành kiến thức, thái độ, kỹ năng, hành vi ứng xử đúng đắn đối với thế giới động vật phù hợp với đặc điểm lứa tuổi.
Đề tài phân tích đặc điểm nhận thức của trẻ 5 - 6 tuổi về thế giới động vật theo 3 khía cạnh: trẻ có nhu cầu nhận thức cao và ham hiểu biết; nhận thức còn mang nặng tính trực quan, cảm tính; quá trình hình thành khái niệm diễn ra thông qua sự tự điều chỉnh giữa hai cơ chế tâm lý là "đồng hóa" (tiếp nhận thông tin mới phù hợp cấu trúc cũ) và "điều ứng" (thay đổi cấu trúc nhận thức khi gặp mâu thuẫn nhận thức mới). Về lý luận trò chơi, tác giả tổng hợp quan điểm của Usinxki, I.A. Comenxki, Ovide Decroly, Friedrich Froebel, Maria Montessori, A.P. Usova, E.I. Chikhieva, E.I. Xamarucova, A.I. Xôrôkina cùng các tác giả trong nước như Nguyễn Ánh Tuyết, Đinh Văn Vang, Nguyễn Thị Hòa, Hoàng Thị Phương, Lưu Thị Chung. Từ đó, khóa luận xác định cấu trúc hoàn chỉnh của một trò chơi học tập gồm 3 thành tố hữu cơ:
- Nhiệm vụ nhận thức (nhiệm vụ chơi): Nội dung học tập mang tính bài toán nhận thức mà trẻ cần giải quyết.
- Hành động chơi: Thao tác thực tế của trẻ trong khi chơi nhằm giải quyết nhiệm vụ nhận thức.
- Luật chơi (quy tắc chơi): Tiêu chuẩn khách quan điều khiển hành vi, định hướng hành động chơi và đánh giá kết quả.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu được tác giả phối hợp đồng bộ:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp, so sánh và hệ thống hóa các tài liệu chuyên ngành về giáo dục mầm non, tâm lý học trẻ em và lý luận tổ chức trò chơi học tập.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (An-két): Khảo sát 20 giáo viên mầm sinh đang dạy lớp 5 - 6 tuổi về nhận thức, mức độ tổ chức, các nguồn trò chơi, khó khăn và các bước thiết kế trò chơi học tập.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ trực tiếp quá trình giáo viên tổ chức hoạt động học và hoạt động chơi; quan sát hành vi, thao tác, mức độ hứng thú của trẻ khi tham gia TCHT.
- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện trực tiếp với giáo viên và trẻ nhằm làm rõ các nguyên nhân dẫn đến thực trạng nhận thức và hành vi.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm: Phân tích kế hoạch giáo dục, giáo án tổ chức hoạt động khám phá khoa học về thế giới động vật của giáo viên.
- Phương pháp khảo sát đánh giá trẻ: Sử dụng hệ thống 3 bài tập thực nghiệm trên 60 trẻ theo 3 tiêu chí đánh giá cụ thể (mỗi tiêu chí gồm 3 chỉ số, tối đa 3 điểm/tiêu chí, tổng điểm tối đa là 9 điểm):
- Tiêu chí 1: Hiểu biết về động vật (chỉ số về tên gọi/đặc điểm/tiếng kêu/nơi sống; chỉ số về sự thích ứng cấu tạo - vận động; chỉ số về vòng đời/sự phát triển).
- Tiêu chí 2: Kỹ năng nhận thức và kỹ năng ứng xử phù hợp với động vật (chỉ số so sánh/phân nhóm; chỉ số hành động chăm sóc, bảo vệ; chỉ số hành động bảo vệ môi trường sống).
- Tiêu chí 3: Thái độ đúng đối với việc bảo vệ động vật (chỉ số quan tâm; chỉ số đồng tình hành vi bảo vệ; chỉ số phản đối hành vi ngược đãi).
- Thang đo: Phân loại theo 3 mức độ (Mức cao: 2,34 - 3,00 điểm/tiêu chí hoặc 7,00 - 9,00 điểm tổng; Mức trung bình: 1,67 - 2,33 điểm/tiêu chí hoặc 4,99 - 6,99 điểm tổng; Mức thấp: 1,00 - 1,66 điểm/tiêu chí hoặc 3,00 - 4,98 điểm tổng).
- Phương pháp thống kê toán học: Toàn bộ số liệu định lượng thu thập từ phiếu điều tra và bài tập khảo sát trẻ được xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel để tính tỷ lệ phần trăm và điểm trung bình.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc giáo dục bảo vệ động vật cho trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi học tập ở trường mầm non
Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận toàn diện cho đề tài. Tác giả phân tích cấu trúc mục tiêu giáo dục bảo vệ động vật cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trên cả ba mặt:
- Về kiến thức: Giúp trẻ nắm bắt tên gọi, đặc điểm hình dáng, màu sắc, cấu tạo phù hợp môi trường sống và vận động, tập tính di cư, cách kiếm ăn, vòng đời sinh trưởng từ sơ sinh đến trưởng thành.
- Về kỹ năng - hành vi: Dạy trẻ biết thực hiện các thao tác chăm sóc vật nuôi phù hợp sức lực, giữ gìn môi trường sống của động vật, biết tránh xa các con vật hung dữ/nguy hiểm và có hành vi ngăn chặn các tác nhân làm hại động vật.
- Về thái độ - tình cảm: Hình thành lòng nhân ái, tình cảm thân thiện, biểu lộ cảm xúc yêu thương đối với các con vật gần gũi, đồng tình với hành vi bảo vệ và bất bình trước các hành vi ngược đãi động vật.
Nội dung chương 1 cũng hệ thống hóa các hình thức tổ chức giáo dục bảo vệ động vật trong trường mầm non (hoạt động học có chủ đích, hoạt động vui chơi, hoạt động ngoài trời, hoạt động tham quan thực tế, hoạt động lao động chăm sóc) và các nhóm phương pháp giáo dục (trực quan, dùng lời, thực hành - trải nghiệm). Đi sâu vào cơ sở lý luận của trò chơi học tập, tác giả phân loại TCHT theo ba căn cứ: theo quá trình tâm lý (trò chơi phát triển giác quan, trí nhớ, trí tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ); theo phương tiện chơi (trò chơi với vật liệu tự nhiên, trò chơi với tranh ảnh/mô hình, trò chơi dùng lời); và theo mục đích dạy học (củng cố nhận biết một đối tượng, nhận biết phân biệt nhiều đối tượng, rèn luyện kỹ năng phân nhóm đối tượng). Luận điểm then chốt của chương là xác định TCHT như một mắt xích sư phạm độc đáo giúp chuyển hóa các nhiệm vụ học tập trừu tượng thành các hành động chơi hấp dẫn, tạo điều kiện thuận lợi nhất để trẻ tiếp thu tri thức và hình thành thái độ ứng xử đúng đắn với tự nhiên.
Chương 2: Thực trạng giáo dục bảo vệ động vật cho trẻ 5 – 6 tuổi qua trò chơi học tập ở trường mầm non
Chương 2 phản ánh toàn diện kết quả khảo sát thực tế tại Trường Mầm non Khánh Thịnh (huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình). Tác giả trình bày hệ thống số liệu điều tra giáo viên và đánh giá năng lực của trẻ, làm rõ mối tương quan giữa năng lực sư phạm của đội ngũ với chất lượng lĩnh hội của học sinh:
Thực trạng nhận thức và hoạt động của giáo viên mầm non:
- 100% giáo viên (20/20 người) nhận thức rõ TCHT có vai trò "Rất quan trọng" đối với việc giáo dục bảo vệ động vật cho trẻ 5 - 6 tuổi.
- Về nội dung giảng dạy: Giáo viên thực hiện thường xuyên ở các nội dung nhận biết đặc điểm bên ngoài, hành vi chăm sóc cơ bản và thái độ đồng tình/không đồng tình (đạt 100%). Ngược lại, các nội dung có tính trừu tượng và chuyên sâu bị xem nhẹ: chỉ có 50% giáo viên thường xuyên dạy về sự phù hợp giữa cấu tạo với môi trường sống và vận động; 35% dạy về vòng đời/sự phát triển của con vật; 85% thường xuyên rèn kỹ năng phân nhóm nhưng chủ yếu chỉ phân loại theo môi trường sống mà bỏ qua các dấu hiệu về cấu tạo, thức ăn hay sinh sản.
- Về hình thức và phương tiện: 100% giáo viên lựa chọn lồng ghép TCHT trong hoạt động học có chủ đích, 45% sử dụng trong hoạt động vui chơi, 35% trong hoạt động ngoài trời, 15% trong hoạt động chiều và 15% trong hoạt động lao động. Khi tổ chức trò chơi, TCHT được lựa chọn nhiều nhất (100%), tiếp theo là trò chơi vận động (80%), trò chơi đóng vai theo chủ đề (35%), đóng kịch (15%) và trò chơi sáng tạo (10%).
- Về nguồn khai thác trò chơi: 100% giáo viên thường xuyên dựa vào tuyển tập trò chơi, thơ ca có sẵn theo chủ đề; 75% sưu tầm qua Internet; 40% học hỏi đồng nghiệp; trong khi chỉ có 30% giáo viên thường xuyên tự thiết kế trò chơi mới và có tới 30% giáo viên không bao giờ tự thiết kế.
| Nguồn trò chơi học tập |
Thường xuyên (SL - %) |
Thỉnh thoảng (SL - %) |
Không bao giờ (SL - %) |
| Tuyển chọn theo chủ đề |
20 (100%) |
0 (0%) |
0 (0%) |
| Sưu tầm từ Internet |
15 (75%) |
5 (25%) |
0 (0%) |
| Kinh nghiệm đồng nghiệp |
8 (40%) |
8 (40%) |
4 (20%) |
| Tự thiết kế trò chơi |
6 (30%) |
8 (40%) |
6 (30%) |
Khó khăn của giáo viên trong thiết kế và sử dụng TCHT: Khảo sát chỉ ra các trở ngại lớn nhất gồm: thiếu tài liệu hướng dẫn quy trình thiết kế trò chơi (90%); số lượng trò chơi có sẵn trong chương trình còn ít (75%); thiếu kinh nghiệm thiết kế (60%); thiếu đồ dùng, đồ chơi trực quan (50%); không có thời gian đầu tư do áp lực công việc (50%) và số lượng trẻ trong lớp quá đông (45%).
Thực trạng nhận thức, kỹ năng và thái độ của trẻ 5 - 6 tuổi:
Khảo sát trên 60 trẻ thuộc 2 lớp mẫu giáo 5 tuổi A và 5 tuổi B cho thấy mức độ đạt được nhìn chung còn hạn chế, tập trung chủ yếu ở mức trung bình và thấp. Điểm trung bình của lớp 5 tuổi A đạt 1,94 điểm (mức trung bình). Khi đánh giá qua 3 bài tập thực nghiệm độc lập trên toàn bộ 60 trẻ:
| Tiêu chí khảo sát trẻ (N = 60) |
Mức Cao (SL - %) |
Mức Trung bình (SL - %) |
Mức Thấp (SL - %) |
| Bài tập 1: Hiểu biết về động vật |
9 (15%) |
31 (52%) |
20 (33%) |
| Bài tập 2: Kỹ năng nhận thức và bảo vệ động vật |
11 (18%) |
34 (57%) |
15 (25%) |
| Bài tập 3: Thái độ đối với việc bảo vệ động vật |
15 (25%) |
32 (53%) |
13 (22%) |
Dữ liệu cho thấy trẻ chủ yếu nắm được các dấu hiệu cảm tính bên ngoài (tên gọi, tiếng kêu, nơi ở quen thuộc). Các hiểu biết về mối liên hệ bản chất giữa cấu tạo cơ thể với khả năng vận động và thích nghi sinh thái, hay việc nhận biết vòng đời sinh trưởng đều đạt kết quả thấp. Kỹ năng thực hành chăm sóc và thái độ bảo vệ môi trường sống của động vật chưa được hình thành rõ nét.
Dựa trên thực trạng khảo sát, chương 2 đưa ra định hướng thiết kế và sử dụng trò chơi học tập: xác định 4 nguyên tắc thiết kế (đảm bảo tính mục đích, tính hấp dẫn, tính vừa sức với nhận thức của trẻ, và phù hợp với thực tiễn lớp học); xây dựng quy trình thiết kế gồm 6 bước chặt chẽ (đặt tên trò chơi, xác định nhiệm vụ nhận thức, xây dựng hành động chơi, xác định luật chơi, chuẩn bị đồ dùng/phương tiện chơi, và soạn hướng dẫn cách chơi); đồng thời đề xuất 3 nhóm trò chơi chuyên biệt: nhóm trò chơi củng cố biểu tượng động vật, nhóm trò chơi rèn kỹ năng so sánh - phân loại động vật, và nhóm trò chơi giáo dục hành vi - ý thức chăm sóc, bảo vệ động vật.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu định lượng chi tiết phản ánh thực trạng tổ chức trò chơi học tập trong giáo dục bảo vệ động vật tại địa bàn nghiên cứu:
- 100% giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của trò chơi học tập, song mức độ vận dụng thực tế chưa tương xứng; có đến 90% giáo viên thiếu tài liệu hướng dẫn thiết kế chuyên sâu và 60% thiếu kinh nghiệm thực hành thiết kế trò chơi mới.
- Khảo sát trên 60 trẻ mầm non phản ánh mức độ nhận thức, kỹ năng và thái độ bảo vệ động vật còn ở ngưỡng thấp và trung bình: tỷ lệ đạt mức cao ở kiến thức chỉ đạt 15% (33% ở mức thấp); kỹ năng bảo vệ động vật đạt mức cao 18% (25% ở mức thấp); thái độ bảo vệ động vật đạt mức cao 25% (22% ở mức thấp).
Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất:
- Cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non về phương pháp và quy trình thiết kế trò chơi học tập theo chủ đề; biên soạn tài liệu hướng dẫn cụ thể để giáo viên chủ động nguồn trò chơi thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các tuyển tập có sẵn.
- Nhà trường và các cấp quản lý cần tăng cường đầu tư trang thiết bị, bổ sung học cụ, đồ chơi trực quan, ứng dụng công nghệ thông tin và tạo dựng môi trường trải nghiệm thực tế (khu vực nuôi dưỡng hoặc chăm sóc vật nuôi nhỏ) để trẻ được quan sát trực quan.
- Giáo viên cần chú trọng rèn luyện các thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp) thông qua trò chơi thay vì chỉ dừng lại ở việc cho trẻ nhận diện bề ngoài; đồng thời kết hợp linh hoạt TCHT vào các thời điểm hoạt động ngoài trời, hoạt động góc và hoạt động lao động chiều.
Về mặt đóng góp khoa học, đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục bảo vệ động vật thông qua trò chơi học tập cho lứa tuổi mẫu giáo lớn; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá gồm 3 tiêu chí và 9 chỉ số định lượng cụ thể. Khác với các nghiên cứu trước đó tại Trường Đại học Hoa Lư chỉ tập trung vào việc nhận biết biểu tượng con vật (Trần Thị Minh Liên) hoặc rèn kỹ năng phân nhóm động vật đơn thuần (Phạm Thị Nguyệt), công trình của Bùi Thị Ngoan đã gắn kết trực tiếp trò chơi học tập với mục tiêu giáo dục ý thức và hành vi bảo vệ động vật cho trẻ 5 - 6 tuổi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số giới hạn nghiên cứu xuất phát từ điều kiện thực hiện:
- Phạm vi khảo sát thực trạng còn hẹp, mới chỉ tiến hành trên quy mô một trường mầm non duy nhất (Trường Mầm non Khánh Thịnh, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình) với cỡ mẫu 20 giáo viên và 60 trẻ em. Do đó, tính đại diện cho các vùng miền khác nhau (khu vực đô thị, vùng khó khăn) còn hạn chế.
- Văn bản khóa luận tập trung chủ yếu vào việc điều tra thực trạng và bước đầu đề xuất các nguyên tắc, quy trình và nhóm trò chơi học tập định hướng; công trình chưa triển khai giai đoạn thực nghiệm sư phạm đối chứng diện rộng để kiểm chứng định lượng hiệu quả tác động của các trò chơi được đề xuất đối với sự phát triển nhận thức và kỹ năng của trẻ.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trên nhiều trường mầm non với các điều kiện cơ sở vật chất đa dạng hơn; tiến hành tổ chức thực nghiệm sư phạm có đo đạc đối chứng trước và sau tác động nhằm kiểm định giá trị thực tiễn của quy trình thiết kế trò chơi; đồng thời nghiên cứu các biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc duy trì thói quen chăm sóc, bảo vệ động vật của trẻ tại gia đình.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Giáo viên mầm non: Tham khảo quy trình 6 bước thiết kế trò chơi học tập, nắm bắt các nguyên tắc sư phạm khi tổ chức hoạt động khám phá khoa học về thế giới động vật, từ đó chủ động sáng tạo thêm các trò chơi phù hợp với điều kiện lớp học.
- Sinh viên và giảng viên ngành Giáo dục Mầm non: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong các học phần phương pháp cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh, lý thuyết tổ chức hoạt động vui chơi, cũng như ứng dụng trong các đợt thực hành và thực tập sư phạm.
- Người nghiên cứu đề tài giáo dục môi trường mầm non: Khai thác bộ công cụ đánh giá năng lực bảo vệ động vật của trẻ 5 - 6 tuổi gồm 3 tiêu chí, 9 chỉ số và thang đo 3 mức độ được thiết kế bài bản trong công trình.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ giáo viên mầm non tự thiết kế trò chơi học tập để giáo dục bảo vệ động vật cho trẻ là bao nhiêu và đâu là rào cản lớn nhất?
Theo kết quả điều tra 20 giáo viên tại Bảng 2.5 và Bảng 2.7, chỉ có 30% giáo viên thường xuyên tự thiết kế trò chơi học tập, 40% thỉnh thoảng và có tới 30% không bao giờ tự thiết kế. Rào cản lớn nhất được 90% giáo viên xác nhận là thiếu hoặc không có tài liệu hướng dẫn cụ thể về cách thức thiết kế trò chơi, kế đến là số lượng trò chơi có sẵn ít (75%) và thiếu kinh nghiệm thiết kế (60%).
2. Thực trạng nhận thức, kỹ năng và thái độ bảo vệ động vật của 60 trẻ 5 - 6 tuổi tại Trường Mầm non Khánh Thịnh đạt mức độ như thế nào?
Kết quả khảo sát tại Bảng 2.10 cho thấy phần lớn trẻ đạt mức trung bình:
- Về hiểu biết: 15% đạt mức cao, 52% đạt mức trung bình và 33% ở mức thấp.
- Về kỹ năng nhận thức và ứng xử: 18% đạt mức cao, 57% đạt mức trung bình và 25% ở mức thấp.
- Về thái độ: 25% đạt mức cao, 53% đạt mức trung bình và 22% ở mức thấp.
Trẻ chủ yếu nắm được đặc điểm hình dáng bên ngoài nhưng chưa hiểu rõ mối quan hệ thích ứng giữa cấu tạo với môi trường sống và vòng đời phát triển của động vật.
3. Tác giả đề xuất đánh giá khả năng bảo vệ động vật của trẻ 5 - 6 tuổi dựa trên những tiêu chí nào?
Tác giả xây dựng 3 tiêu chí đánh giá chính, mỗi tiêu chí gồm 3 chỉ số (tối đa 1 điểm/chỉ số, 3 điểm/tiêu chí):
- Tiêu chí 1: Trẻ có hiểu biết về động vật (biết tên gọi, đặc điểm, cấu tạo, vận động, tiếng kêu; biết sự phù hợp cấu tạo - môi trường sống; biết sự phát triển/vòng đời).
- Tiêu chí 2: Có kỹ năng nhận thức và ứng xử phù hợp (biết so sánh/phân nhóm; biết hành động chăm sóc, bảo vệ; biết bảo vệ môi trường sống).
- Tiêu chí 3: Có thái độ đúng với việc bảo vệ động vật (quan tâm đến động vật; thể hiện thái độ đồng tình với hành vi chăm sóc, bảo vệ; thể hiện thái độ không đồng tình với hành vi ngược đãi).
4. Nội dung giáo dục bảo vệ động vật nào ít được giáo viên thực hiện thường xuyên nhất?
Theo Bảng 2.2, nội dung dạy trẻ biết sự phát triển (vòng đời) của con vật chỉ có 35% giáo viên thực hiện thường xuyên (65% thỉnh thoảng); nội dung dạy trẻ biết sự phù hợp giữa cấu tạo với vận động và môi trường sống có 50% giáo viên dạy thường xuyên, 35% thỉnh thoảng và 15% không bao giờ dạy do giáo viên đánh giá đây là nội dung khó đối với nhận thức của trẻ.
5. Đề tài đề xuất những nhóm trò chơi học tập cụ thể nào nhằm giáo dục bảo vệ động vật cho trẻ?
Dựa trên mục tiêu giáo dục, khóa luận định hướng thiết kế 3 nhóm trò chơi học tập chính: nhóm trò chơi củng cố biểu tượng về các loài động vật (tên gọi, đặc điểm, cấu tạo, tiếng kêu); nhóm trò chơi rèn luyện kỹ năng so sánh, phân nhóm động vật; và nhóm trò chơi giáo dục cách thức, hành vi và ý thức chăm sóc, bảo vệ động vật.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Ngoan đã làm rõ cơ sở lý luận và phản ánh khách quan thực trạng tổ chức trò chơi học tập nhằm giáo dục bảo vệ động vật cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại Trường Mầm non Khánh Thịnh (Ninh Bình). Kết quả khảo sát cho thấy khoảng cách rõ rệt giữa nhận thức tích cực của giáo viên với tỷ lệ tự thiết kế trò chơi còn thấp, đồng thời chỉ ra mức độ nhận biết và kỹ năng bảo vệ động vật của trẻ chủ yếu dừng lại ở mức trung bình và thấp. Công trình đã xác lập hệ thống tiêu chí đánh giá chuẩn xác, đề xuất quy trình thiết kế 6 bước cùng 3 nhóm trò chơi học tập chuyên biệt, đóng góp một tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác đào tạo và giảng dạy chuyên ngành Giáo dục Mầm non.