mở đầu, có diễn biến, có kết thúc. Các quy luật vận động nội tại của tiến trình văn học Thứ nhất, là một bộ phận của lịch sử xã hội, cũng như bản thân văn học, tiến trình văn học không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ phổ biến với các hình thái ý thức xã hội khác, các loại hình nghệ thuật khác và chịu sự chi phối của cơ sở kinh tế. Đồng thời, nó có mục đích tự thân của nó, nên nó có tính độc lập tương đối thể hiện sự đặc thù của hình thái nghệ thuật. Do vậy, từ trong vận động nội tại của tiến trình văn học, đã phải tuân thủ quy luật giao lưu, ảnh 13 hưởng giữa các hiện tượng văn học.
Sự tác động của văn học diễn ra trên nhiều cấp độ, với nhiều quy mô khác nhau. Một thời đại văn học nhất định có thể tác động, ảnh hưởng đến sáng tác của nhiều nhà văn thuộc nhiều thời đại khác nhau. Thứ hai, quy luật vận động của văn học luôn có sự kế thừa và cách tân, đồng thời còn có sự lặp lại của những hiện tượng văn học không cùng nguồn cội phát sinh. Kế thừa và sáng tạo là kiểu tác động thể hiện sự tiến hóa của tiến trình văn học.
Tư duy sáng tạo của tác giả bao giờ cũng là sản phẩm của quá trình tích lũy, kế thừa từ thuở ấu thơ trong đời sống gia đình, từ trường lớp, xã hội tạo nên vô thức, tiềm thức và sống dậy ý thức khi bước vào hoạt động sáng tạo. Trong hoạt động sáng tạo, kế thừa là quy luật tất yếu. Sáng tác văn học là một hoạt động có ý thức, nhằm thể hiện thái độ nhân sinh. Người viết phải đối thoại, nối lời, tiếp lời, thậm chí tranh biện với ý kiến của người cùng thời và tiền nhân.
Vì thế, kế thừa không chỉ là lặp lại hoàn toàn những gì đã có, mà trong đó đã bao hàm sự sáng tạo. Ngược lại, do sự tác động và ảnh hưởng qua lại, khi có cùng điều kiện lịch sử, cũng không ít hiện tượng tương đồng, trùng lặp, cho dù không có tác động qua lại, không có quan hệ ảnh hưởng. Thứ ba, tiến bộ nghệ thuật và tính vĩnh hằng của các giá trị thẩm mỹ thể hiện quy luật không lặp lại của nghệ thuật. Ý nghĩa của tiến bộ văn học không giống với tiến bộ của khoa học hoặc triết học.
Trong khoa học, cái mới bao giờ cũng thay thế cái cũ, cái cũ hòa tan hoàn toàn trong cái mới. Còn trong văn học, cái cũ hoặc là tồn tại trong cái mới, hoặc là được cái mới kế thừa và cách tân. Tiến bộ nghệ thuật cần được hiểu như là sự nâng cao, sự hoàn thiện loại hình và trình độ tư duy hình tượng, mở ra cho nghệ thuật những khả năng to lớn trong nhận thức, khám phá, chiếm lĩnh thế giới hiện thực, đồng thời thỏa mãn ngày càng cao khát vọng thẩm mỹ của con người. Chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiến trình văn học “Trên một ý nghĩa nhất định thì vấn đề đầu tiên của văn học là vấn đề phân kỳ thành những thời đại văn học” [22, 62].
Trên cơ sở tìm hiểu và nghiên 14 cứu văn học phương Tây cũng như các phương pháp sáng tác của văn học châu Âu, GS Phương Lựu cho biết: “văn học châu Âu có 3 thời kỳ lớn” [22, 63]. Đó là: Thứ nhất: Thời cổ trung đại từ cổ Hy Lạp – La Mã đến trước thời kỳ Phục hưng, héo dài đến mấy thiên niên kỷ bao gồm chế độ nô lệ và giai đoạn đầu của chế độ phong kiến. Thứ hai: Thời kỳ văn học cận đại bắt đầu từ thời Phục hưng, mặc dù còn nằm trong chế độ phong kiến nhưng đã xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, rồi trải qua cuộc cách mạng tư sản thế kỷ XVIII, hình thái xã hội tư bản xác lập và nhanh chóng hình thành chủ nghĩa đế quốc vào nửa sau thế kỷ XIX. Thứ ba: Thời kỳ văn học hiện đại là gối đầu từ cuối thế kỷ XIX cho mãi đến ngày nay.
Vậy trong tiến trình văn học thế giới chủ nghĩa hậu hiện đại ở đâu trong tiến trình văn học? Câu trả lời của GS. Phương Lựu được nhiều học giả và người nghiên cứu văn học tán thành “Trước đây có ý kiến cho rằng chủ nghĩa hậu hiện đại là một biến thái của cái vốn có, cho nên có thể ghép chung vào chủ nghĩa hiện đại. Nhưng xét cho cùng, tuy có yếu tố liên quan song thực chất nó là một phương pháp sáng tác của một trào lưu văn học khác không kém phần phong phú và phức tạp cần tách ra để nghiên cứu sâu hơn” [22, 322]. Vậy chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời khi nào, điều này liên quan đến chủ nghĩa hiện đại.
Từ thời Phục hưng một hệ tư tưởng mới bắt đầu hình thành, nhưng vẫn nằm trong lòng chế độ phong kiến. Mãi đến thế kỷ XVIII, chế độ tư bản mới chào đời nhưng còn phải trải qua một quá trình giằng co với thế lực phong kiến để phát triển. Không phải ngẫu nhiên từ đây trở về trước, hầu như chưa hề xuất hiện chữ modernism (hiện đại). Thế kỷ XVIII, năm 1793, trong thư gửi cho Alexander Pope, nhà văn nổi tiếng Jonathan Swift có sử dụng khái niệm hiện đại nhưng theo nghĩa tiêu cực chế diễu: “Các tao nhân mặc khách dẫn đến cho chúng ta những nhà thơ loạn xì bát nháo, mang theo chủ nghĩa hiện đại ly kỳ cổ quái với nhiều từ ngữ tỉnh lược làm người ta chán ngấy, chính họ làm bại hoại 15 tiếng Anh” [dẫn theo 21].
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nền kinh tế tư bản từ chỗ tự do cạnh tranh đến chỗ lũng đoạn, chủ nghĩa tư bản biến thành chủ nghĩa đế quốc thực dân. Không những có mâu thuẫn giai cấp lao động trong nước, với các dân tộc thuộc địa ngày càng gay gắt, kinh tế khủng hoảng trầm trọng mà mâu thuẫn giữa các đế quốc với nhau ngày càng quyết liệt, đưa nhân loại đến miệng hố chiến tranh. Thế chiến I kết thúc đã lôi cuốn hơn 30 nước vào vòng khói lửa, hàng chục triệu người tử vong. Thế chiến 2 lại càng kinh hoàng, số người chết gấp nhiều lần.
Người ta bất giác kêu lên: “Thượng đế đã chết rồi”. Biết bao lý trí, đạo đức và niềm tin kết tinh từ hàng ngàn đời của nhân loại hầu như bị tiêu biến. Bản tính của nhân loại là hoài nghi, con người đầy lo âu trước vận mệnh và tiền đồ của mình. Mặt khác, khoa học phát triển nhanh chóng, đời sống vật chất ngày càng nâng cao, kéo theo đời sống tinh thần nghèo nàn: máy tính, người máy bên cạnh những mặt tích cực đã khiến cho con người lệ thuộc và càng ngày càng mất đi tính chủ thể.
Con người nhiều khi tự hỏi “Ta là ai?”. Phản ứng của nhân loại trước thực tế đó, chủ nghĩa Hiện đại mới ra đời và hàm chứa một sự chuyển biến dữ dội trong quan niệm bề cuộc đời và con người. Nhưng về mốc thời gian tồn tại của chủ nghĩa hiện đại thì có nhiều ý kiến khác nhau. Điều này không có gì lạ bởi vì cũng như bất cứ hiện tượng nào khác, chủ nghĩa hiện đại là một chỉnh thể bao gồm nhiều yếu tố và đều không ngừng diễn biến.
Mọi người sẽ nhìn nhận, khẳng định ở chỗ nào, lúc nào phù hợp với cách lý giải riêng của mình. Nhưng nhìn chung nhất, bao quát mọi khía cạnh và suốt quá trình thì chủ nghĩa hiện đại bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XIX với chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa biểu hiện…. Từ những năm 60 của thế kỷ XX trở đi, tiến trình văn học bước sang thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hậu hiện đại, nghĩa là còn tình trạng giao thoa cài răng lược giữa chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại. Tất nhiên, càng về sau thì chủ nghĩa hậu hiện đại càng chiếm ưu thế trên văn đàn.
Đặc điểm chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học 1) Quan niệm về hiện thực đời sống và con người 16 a) Quan niệm về hiện thực đời sống: Muốn thấy rõ điều này phải đối chiếu với chủ nghĩa hiện đại.jameson cho rằng: Chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại là tương ứng với chủ nghĩa tư bản lũng đoạn và chủ nghĩa tư bản đa quốc gia. Chủ nghĩa hiện đại phá bỏ toàn bộ các mô thức chiều sâu, phủ nhận từ thượng đế đến tồn tại khách quan nhưng họ ra sức xây dựng mô thức chiều sâu khác, mặc dù không rõ ràng, xác định, phản chứng. Đó là vô thức của chủ nghĩa F. Rreud, của chủ nghĩa hiện sinh, kết cấu tầng sâu của chủ nghĩa cấu trúc…cho nên mặc dù chủ nghĩa hiện đại cũng có trung tâm nhưng chập chờn, có quyền uy nhưng không thấy được, có chỉnh thể, nhưng lý tính không thể nắm bắt.
Đó là lý do tại sao con người trong chủ nghĩa hiện đại hay lo âu, cô độc, mê sảng, phiêu lãng và về mặt thi pháp, thường sử dụng những ẩn dụ, tượng trưng, mộng ảo, trực giác để nắm bắt và mô tả hiện thực. Để chủ nghĩa hậu hiện đại lại phủ nhận triệt để các mô thức chiều sâu dù xác định hay mơ hồ đó và quan trọng hơn là không hề có ý định tái thiết mô thức chiều sâu nào khác nữa. Ihab Hassan cho rằng từ chính trị xã hội, từ hệ thống nhận thức đến tinh thần và tâm lý cá nhân, các khái niệm và giá trị hiện tồn đều bị dao động và hoài nghi, bởi tất cả những thứ đó đều do tính hư cấu trong ngôn ngữ với tư cách là hệ thống ký hiệu tượng trưng mà con người dựa vào để nắm bắt thế giới. Bất luận những giá trị tối cao thượng đế sáng chế, bản chất tuyệt đối.
Chẳng qua là do con người tạo ra để tự an ủi và lừa dối mà thôi, cho nên với chủ nghĩa hậu hiện đại thì phía sau hiện tượng không hề có bản chất, bên trong ngẫu nhiên không hề có tất yếu, bên dưới vô thức không có ý thức, bên trên ngôn từ không thể có ngôn ngữ. Bản chất của hiện tượng nếu có thì không được xác định dứt khoát mà luôn được khai mở bởi những quan hệ không ngừng thay đổi. b) Quan niệm về con người: Nếu con người trong chủ nghĩa hiện đại lại tỏ ra ưu tư chán chường trước trạng thái tha hóa của nhân sinh thì con người trong chủ nghĩa hậu hiện đại lại càng dị thường hóa, ảo giác hóa, tha hóa. Đó một cách thản nhiên để lấy làm thú vị mặc dù có lúc cũng hoảng sợ.