UBND TỈNH NINH BÌNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ -----o0o----- BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG XỬ LÝ ỐC BƯƠU VÀNG BẰNG MEN VI SINH HLC THÀNH PHÂN HỮU CƠ BÓN CHO CÂY CÀ CHUA TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ Chủ nhiệm đề tài : ThS. Phạm Văn Cường Đơn vị: Phòng Đào tạo - QLKH NINH BÌNH, 2020 1 UBND TỈNH NINH BÌNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ -----o0o----- BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG XỬ LÝ ỐC BƯƠU VÀNG BẰNG MEN VI SINH HLC THÀNH PHÂN HỮU CƠ BÓN CHO CÂY CÀ CHUA TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ Chủ nhiệm đề tài : ThS. Phạm Văn Cường Đơn vị: Phòng Đào tạo - QLKH Thành viên Đơn vị ThS. Nguyễn Thị Mỳ K.
Nông lâm ThS. Phạm Thị Hương Thảo K. Giáo dục TX ThS. Hoàng Phúc Ngân K.
Nông lâm ThS. Nguyễn Thị Tố Uyên K. Nông lâm NINH BÌNH, 2020 2 MỤC LỤC 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Tổng quan về các công trình nghiên cứu thủy phân xác động vật thành phân bón hữu cơ. Tổng quan về nghiên cứu bón phân hữu cơ trên cây cà chua. Tổng quan về men HLC.
MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Mục đích nghiên cứu. Đối tượng, vật liệu, phạm vi nghiên cứu của đề tài. Đối tượng, vật liệu nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu. Cách tiếp cận. Phương pháp nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Ảnh hưởng của liều lượng men vi sinh HLC dùng để phân giải ốc bươu vàng đến chất lượng sản phẩm phân hữu cơ thu được. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ được chế biến từ ốc bươu vàng đến sinh trưởng, phát triển của cây cà chua và chất lượng quả cà chua. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ được chế biến từ ốc bươu vàng đến thời gian ra hoa, ngày thu quả đợt 1 và ngày kết thúc thu hoạch quả của cây cà chua.
Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ được chế biến từ ốc bươu vàng đến số chùm hoa, số chùm hoa hữu hiệu và tỷ lệ đậu quả của cây cà chua. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ được chế biến từ ốc bươu vàng đến đường kính quả, tỷ lệ quả nứt của cây cà chua. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ được chế biến từ ốc bươu vàng đến số quả và khối lượng quả của cây cà chua. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ được chế biến từ ốc bươu vàng đến một số chỉ tiêu về chất lượng quả cà chua.
Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ được chế biến từ ốc bươu vàng đến một số sâu bệnh hại chính trên cây cà chua. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ được chế biến từ ốc bươu vàng đến năng suất thực thu quả của cây cà chua. Hiệu quả kinh tế sơ bộ. 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
ii DANH MỤC BẢNG Bảng 2. Ảnh hưởng của liều lượng men HLC ủ nguyên liệu đến hàm lượng Nts, P205hh và K20hh của phân hữu cơ thu được từ ốc bươu vàng. Ảnh hưởng của thời gian ủ nguyên liệu đến hàm lượng Nts, P205hh và K20hh của phân hữu cơ thu được từ ốc bươu vàng. Ảnh hưởng của liều lượng bón phân hữu cơ được chế biến từ ốc bươu vàng tới thời gian ra hoa, thu quả của cây cà chua.
Ảnh hưởng của liều lượng bón phân hữu cơ được chế biến từ ốc bươu vàng tới số chùm hoa, chùm hoa hữu hiệu và tỷ lệ đậu quả của cây cà chua. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ được chế biến từ ốc bươu vàng đến đường kính quả và tỷ lệ quả cà chua bị nứt. Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ được chế biến từ ốc bươu vàng đến số quả và khối lượng quả của cây cà chua. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tới một số chỉ tiêu chất lượng quả cà chua.
Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tới khả năng bị nhiễm một số bệnh của cây cà chua. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tới sự gây hại của sâu khoang và sâu xanh đục quả tới cây cà chua. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tới năng suất thực thu quả của cây cà chua. Chi phí chế biến phân ốc bươu vàng.
Chi phí chung cho toàn bộ thí nghiệm. Hiệu quả kinh tế sơ bộ. 26 DANH MỤC HÌNH Hình 2. Ảnh hưởng của liều lượng men HLC và thời gian ủ đến hàm lượng dinh dưỡng của phân hữu cơ thu được từ ốc bươu vàng.
Thời gian ra hoa, thu quả cây cà chua. Năng suất thực thu quả cà chua. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Việt Nam đang mất cân đối nghiêm trọng về sử dụng phân bón, nông dân đang lạm dụng phân bón vô cơ trong sản xuất. Tình trạng ô nhiễm phân bón vô cơ đang là một trong những vấn đề nan giải của ngành sản xuất nông nghiệp.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến tháng 12/2017, số lượng sản phẩm phân bón đang được sản xuất, kinh doanh, sử dụng trong nước thuộc loại phân bón vô cơ đã gấp hơn 19 lần số lượng sản phẩm phân bón hữu cơ [1]. Ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata) đã và đang trở thành mối đe doạ lớn cho sản xuất nông nghiệp của nước ta và nó chính thức được Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN) xác định là một trong 100 loài sinh vật ngoại lai nguy hiểm nhất. Để diệt trừ ốc bươu vàng, chúng ta đã sử dụng hầu hết các biện pháp như bắt thủ công, cơ giới, biện pháp sinh học, biện pháp canh tác và cả biện pháp hoá học. Nhưng trên thực tế, ốc bươu vàng vẫn đang tồn tại, phát triển, lây lan, tiếp tục gây hại nghiêm trọng trên các cây trồng nông nghiệp ở nước ta, đặc biệt là lúa nước [3].
Sản phẩm men vi sinh HLC đã được ứng dụng trong xử lý cá và các sản phẩm phụ từ cá để hạn chế ô nhiễm môi trường và tạo thành phân hữu cơ bón cho cây trồng khá phổ biến. Tuy nhiên, chưa thấy công trình nào công bố việc sử dụng sản phẩm này để xử lý ốc bươu vàng. Ngày nay vấn đề rau an toàn được người tiêu dùng đặc biệt quan tâm trong đó có cà chua - một trong những loại rau quan trọng được trồng ở hầu khắp các vùng ở nước ta. Quả cà chua chứa nhiều khoáng chất như Ca, P, Fe, Na, K.
Ngoài ra, cà chua còn được được biết đến nhiều nhất là các chất có khả năng chống oxy hóa cao như Lycopene, các carotenoit, phenolics và một lượng vừa phải Vitamin C [18]. Ninh Bình là một trong những tỉnh rất quan tâm tới sản xuất nông nghiệp bền vững. Nghị quyết số 39/2018/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân tỉnh Ninh Bình đã ban hành quy định chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế nông nghiệp trong đó có hỗ trợ thí điểm phát triển nông nghiệp hữu cơ, theo hướng hữu cơ [6]. 1 Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học: “Xử lý ốc bươu vàng bằng men vi sinh HLC thành phân hữu cơ bón cho cây cà chua tại Trường Đại học Hoa Lư”.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về các công trình nghiên cứu thủy phân xác động vật thành phân bón hữu cơ Ameilia Zuliyanti Siregar, Tulus, Kemala Sari Lubis [11] đã nghiên cứu và đưa ra phương pháp chế tạo phân hữu cơ dưới dạng dung dịch từ ốc bươu vàng. Ốc được rửa sạch, luộc và tách lấy phần thịt. Thịt ốc vàng được cắt thành miếng nhỏ, tách ra khỏi ruột và các cơ quan nội tạng khác rồi cho nước dừa, đường nâu loãng, EM4 và lên men cho đến 10 - 14 ngày để tạo ra phân bón hữu cơ lỏng.
Phân bón này có thể được phun trên bề mặt đất hoặc tất cả các bộ phận của cây. Bón phân cho cây đề nghị 200ml/15 lít nước phun lên lá và đất 7 ngày sau khi trồng và lặp lại sau mỗi 7 ngày. Việc sử dụng tốt cho các loại cây như lúa, đậu, ngô và cây lâu năm. Bón phân theo phương pháp này có thể khôi phục và cải thiện độ phì của đất; đất tơi xốp hơn, có sự phát triển của giun và vi sinh vật nhiều hơn; cải thiện khả năng sinh trưởng của cây và vô hại với môi trường đối với vật nuôi.
Kanlayaphorn Posaluk và Sirasatiyakorn Junkasiraporn [16] đã nghiên cứu tác động của dịch chiết từ ốc bươu vàng và lục bình đến cây cải bắp Trung Quốc được trồng bằng thủy canh. Kết quả nghiên cứu cho thấy bắp cải Trung Quốc được trồng bằng dịch chiết xuất sinh học từ ốc bươu vàng với tỷ lệ 1:1000 có xu hướng tạo ra tổng trọng lượng khô cao hơn. Tuy nhiên, chiết xuất sinh học từ ốc bươu vàng với tỷ lệ 1:500 có xu hướng sản xuất tổng lượng diệp lục, carotenoids và-carotene cao hơn. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chiết xuất sinh học ảnh hưởng đến sự phát triển của bắp cải Trung Quốc và có thể được sử dụng làm nguồn dinh dưỡng cho cây trồng để giảm hóa chất sử dụng trong nuôi trồng thủy canh.
Barnali Basu và Ajit K Banik đã nghiên cứu thủy phân các sản phẩm phụ của cá bằng enzyme bởi protease của Aspergillus niger AB100 để sản xuất protein hòa tan để sử dụng làm phân bón hữu cơ. Các chất dinh dưỡng vô cơ tối ưu đã 2 được tìm thấy là: MgSO4, 0,75; K2HPO4, 0,2; và KCl, 0,075%. niger AB100 cần FeSO4.7H2O (15μg / ml) để sản xuất và sản lượng protease cao hơn. Các giá trị tối ưu cho các chất dinh dưỡng có hiệu quả chi phí được thử nghiệm để sản xuất protease tối đa là: Bột đậu nành đã khử chất béo, 0,2; Peptone, 0,3; và nước ngô 0,2% [12].
Các tác giả Phạm Đình Dũng và Trần Văn Lâm (2013) [2] khi nghiên cứu ứng dụng dung dịch thủy phân từ phụ phẩm của cá đã kết luận: Enzym Alcalase thủy phân phụ phẩm cá Tra tối ưu trong điều kiện pH = 8, nhiệt độ 650C và thời gian là 120 phút. Để bảo quản dịch thủy phân thì bổ sung 0,5% natribenzoat cho hiệu quả cao nhất. Sử dụng chế phẩm 1 với nồng độ 0,5% (5ml/lít nước) cho hiệu quả cao nhất trên rau cải xanh và chế phẩm 2 với nồng độ 0.5% có hiệu quả nhất trên dưa leo trồng trong nhà màng. Sử dụng phân sinh học cá (chế phẩm 1) với liều lượng 10ml/lít nước cho rau cải xanh và rau dền trồng ngoài đồng thì cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất.